Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP...
Về định hướng phát triển đất nước giai đoạn này, xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 chủ đề: “Mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” diễn ra sáng 25/3 tại Hà Nội, đề cập đến chính sách huy động vốn cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, PGS.TS Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính đã chỉ ra nhiều điểm nghẽn làm cơ chế hỗ trợ kém hiệu quả, khiến động lực phát triển chưa được khai thông.
Chuyên gia phân tích, chính sách khuyến khích nguồn lực tài chính cho nghiên cứu và phát triển (R&D) không phải là điều mới ở Việt Nam, từ Nghị định 35-HĐBT ngày 28/1/1992 đã yêu cầu tăng cường huy động nguồn tài chính cho khoa học công nghệ.
Thực tế thời gian qua, tổng nguồn vốn đầu tư cho R&D tăng qua các năm, tuy nhiên ông Cường đánh giá Việt Nam đang chi tiêu quá ít cho R&D.
Thống kê tổng chi quốc gia cho R&D tại Việt Nam.
Chuyên gia dẫn số liệu từ năm 2015 đến những năm gần đây cho thấy đầu tư cho R&D ở Việt Nam thường đạt khoảng hơn 0,4 - 0,5% GDP, chỉ bằng 1/4 so với mục tiêu đặt ra (2%). Trong khi đó, mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, gấp hơn 5 lần Việt Nam.
Vấn đề này không chỉ diễn ra ở khu vực Nhà nước, chi tiêu của doanh nghiệp cho R&D cũng ở mức thấp - chỉ đạt 0,2% GDP, dù có xu hướng tăng nhanh nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức 1,7% ở Trung Quốc và 3,6% ở Hàn Quốc.
Các doanh nghiệp nhận được hỗ trợ của Nhà nước cũng còn khá khiêm tốn, chủ yếu thông qua các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ (chiếm 23,3% số doanh nghiệp điều tra) và tín dụng (chiếm 24,1%).
Nguồn vốn chi cho R&D của Việt Nam và các nước
PGS.TS Vũ Sỹ Cường chỉ ra, mức đầu tư hạn chế cho R&D của cả khu vực công và tư nhân ở Việt Nam dẫn đến không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển hạ tầng đào tạo, R&D trong các ngành, nhất là ngành công nghệ cao. Bên cạnh đó, còn có hiện tượng phân bổ vốn đầu chồng chéo, dàn trải, chưa tập trung vào lĩnh vực ưu tiên của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ.
Việt Nam hiện có nhiều chính sách khuyến khích R&D và đổi mới sáng tạo nhưng hiệu lực thực tế thấp. Đặc biệt, các Quỹ hỗ trợ nhà nước đang cho thấy vai trò khá mờ nhạt với thủ tục để được vay vốn phức tạp, lãi suất và thời hạn vay không hấp dẫn đối với doanh nghiệp, động lực giải ngân thấp…
Theo chuyên gia, quy trình, thủ tục để thực thi chính sách phức tạp, tạo cơ hội cho nhũng nhiễu, xin cho. Một số chính sách mới dừng ở văn bản khung rất khó áp dụng chính sách vào thực tiễn. Cơ chế để các doanh nghiệp tham gia vào các dự án, đề án, đề tài, chương trình khoa học công nghệ của khu vực công cũng còn hạn chế. Chính sách hỗ trợ qua thuế với R&D còn ít tác động đến doanh nghiệp, do cơ chế khuyến khích thấp trong khi thủ tục phức tạp, chi phí tuân thủ cao. Ngoài ra còn có nguyên nhân do đội ngũ cán bộ nghiên cứu, nhất là ở doanh nghiệp còn mỏng và yếu.
Chuyên gia khuyến nghị, cần thúc đẩy chi cho R&D thông qua đơn giản hóa, cụ thể hóa các chính sách chi của khu vực công và các chính sách hỗ trợ của khu vực doanh nghiệp.
Theo ông Cường, cần cải cách cơ chế quản lý các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp, triển khai cơ chế nhằm đồng tài trợ R&D cho doanh nghiệp; nghiên cứu thử nghiệm cơ chế đặt hàng hoặc mua sản phẩm đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; xây dựng chính sách cụ thể hợp tác R&D giữa khu vực công và tư, cả về nhân lực và tài lực.
“Nhà nước tài trợ 30 - 70% kinh phí, doanh nghiệp đối ứng phần còn lại, giúp chia sẻ rủi ro và tăng khả năng thử nghiệm công nghệ mới tại doanh nghiệp”, chuyên gia đề xuất.
Ở góc nhìn của TS. Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, lãi suất cao đang trở thành rào cản lớn đối với đầu tư của doanh nghiệp. Trong bối cảnh chi phí vốn đắt đỏ, việc kỳ vọng doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ là rất khó khả thi. Ông cho rằng, nguồn lực tài chính là nền tảng để thu hút nhân tài, từ đó mới có thể phát triển khoa học công nghệ.
Các chuyên gia tại phiên thảp luận về giải pháp xác lập mô hình phát triển Việt Nam trong bối cảnh mới.
Đồng quan điểm, khi trình bày về kinh tế dữ liệu - một động lực của mô hình tăng trưởng mới, ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch tập đoàn CMC, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, cũng đã đề xuất có các cơ chế tài chính đột phá.
Theo ông Chính, Việt Nam cần khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý về ưu đãi thuế và vốn cho các doanh nghiệp có hoạt động liên quan tới dữ liệu và AI để giảm bớt áp lực chi phí đầu tư ban đầu. Bên cạnh đó, nên tận dụng tối đa mô hình PPP để thu hút dòng vốn tư nhân và FDI vào các dự án hạ tầng dữ liệu lớn, giúp doanh nghiệp cùng Nhà nước chia sẻ rủi ro và lợi ích.
Ông Chính cho rằng, cần thiết lập các khung pháp lý thử nghiệm linh hoạt để doanh nghiệp tư nhân có thể mạnh dạn triển khai các mô hình kinh doanh dữ liệu và ứng dụng AI mới mà không bị rào cản bởi các quy định truyền thống. Đồng thời, hoàn thiện các quy định về định giá dữ liệu và quyền sở hữu để đảm bảo tài sản số của doanh nghiệp được công nhận và bảo vệ một cách minh bạch trên thị trường.
Đỗ Kiều