Tác giả: Daniel Yergin
Dầu mỏ, tiền bạc & quyền lực
Sách khắc họa toàn cảnh lịch sử ngành công nghiệp dầu mỏ - cuộc giao tranh giành tiền bạc và quyền lực xung quanh vấn đề dầu mỏ. Cuộc chiến này đã làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu, phản ánh hậu quả của các cuộc chiến tranh thế giới và khu vực, đồng thời thay đổi vận mệnh nhân loại nói chung và các quốc gia nói riêng.
Chiến tranh bùng nổ đã làm chấn động thị trường dầu mỏ
Năm 1980, Iraq tấn công vào tất cả cảng dầu và trung tâm dầu mỏ của Iran. Ngược lại, Iran đã phản công bằng cách tấn công vào các cơ sở của Iraq.
Chiến tranh bùng nổ đã làm chấn động thị trường dầu mỏ. Ngày 23/9/1980, ngày thứ hai của cuộc chiến, máy bay chiến đấu của Iraq bắt đầu các đợt tập kích liên tiếp vào nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới của Iran tại Abadan. Cuộc tập kích kéo dài hơn hai tháng nhằm phá hủy hoàn toàn nhà máy này. Iraq cũng tấn công vào tất cả cảng dầu và trung tâm dầu mỏ của Iran.
Ngược lại, phía Iran đã phản công lại bằng cách tấn công vào các cơ sở của Iraq, chặn đứng con đường xuất khẩu của quốc gia này thông qua Vùng Vịnh. Hơn thế nữa, Iran kịp thời thuyết phục Syria, lúc bấy giờ do đảng đối nghịch với đảng người Ba’th lãnh đạo, cắt đứt đường ống dẫn dầu xuất khẩu của Iraq chạy qua Syria, để lại duy nhất một đường ống dẫn dầu chạy qua Thổ Nhĩ Kỳ. Cuộc chiến tranh đã khiến xuất khẩu dầu mỏ của Iran giảm xuống, nhưng xuất khẩu của Iraq cũng gần như đình lại, điều mà Hussein không tính đến.
Một binh sĩ quan sát khói bốc lên từ các nhà máy lọc dầu đang cháy ở Abadan, Iran, năm 1980. Ảnh: The Guardian.
Trong giai đoạn đầu, cuộc chiến Iran - Iraq đã làm lượng dầu xuất ra thị trường thế giới giảm khoảng 4 triệu thùng mỗi ngày, chiếm 15% tổng sản lượng của OPEC và 8% nhu cầu dầu mỏ trung bình của thế giới. Giá dầu tại các quốc gia này ngay lập tức tăng vọt trở lại.
Ả-Rập chạm mức giá cao chưa từng thấy, 42 USD, một thùng. Mối lo lắng bao trùm thị trường. Đây có phải Cuộc khủng hoảng thứ ba, tiếp sau sự sụp đổ của Trung Đông và ngành công nghiệp dầu mỏ của khu vực này rơi vào tình trạng hỗn loạn và tranh chấp gay gắt? Một quốc gia xuất khẩu dầu mỏ như Iran có biến mất lần nữa? Cuộc chiến giữa hai phe Sunny và Shia, giữa Ả Rập và Ba Tư (nay là Iran) có làm đảo lộn tình hình toàn bộ khu vực Vùng Vịnh không? Hay thậm chí nghiêm trọng hơn?
Iran với số dân nhiều gấp ba lần Iraq có chiến thắng và đưa cuộc cách mạng của phe chính thống, chống phương Tây đang len lỏi ngày càng sâu rộng vào trung tâm khu vực Trung Đông? Chính nhờ những câu hỏi như vậy mà người ta có thể đọc từ các chỉ số kinh tế cơ bản ra hai kết quả: hoặc một cuộc khủng hoảng mới hoặc theo hướng ngược lại. Vậy kết quả nào sẽ đúng?
Nhu cầu về dầu thực tế đang giảm. Tuy nhiên, người ta vẫn không thể biết đó có phải kết quả của suy thoái kinh tế - vốn là một sự suy giảm tạm thời, hay là kết quả của việc dự trữ (dầu), vốn có tác động lâu dài hơn. Sự co bóp kinh tế đã bắt đầu, việc tăng giá càng trở nên rắc rối do một số nước phương Tây đưa ra giải pháp mới cho vấn đề lạm phát bất chấp những giải pháp này có thể khiến tình hình khủng hoảng nghiêm trọng hơn. Nhưng dù vì gì, rõ ràng nhu cầu về dầu đang giảm xuống.
Trong khi đó, theo khuôn khổ pháp lý của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, chính phủ các nước đã rút kinh nghiệm từ những bài học năm 1979 và nỗ lực thuyết phục các công ty không mua hàng trong tình trạng hoang mang, không tranh giành nguồn cung cấp dầu, không tăng giá, mà ngược lại, nên giảm lượng dự trữ. Thông điệp mà cơ quan năng lượng quốc tế đưa ra một lần nữa bảo đảm: Mọi thứ vẫn trong tầm kiểm soát, tình trạng như năm 1979 sẽ không tái diễn, bình tĩnh tránh “mua hàng không mong đợi” (nghĩa là mua dầu giá cao). Thông điệp này rất có ý nghĩa vào thời điểm mà các công ty giữ vai trò cung cấp khác nhau.
Từ đầu năm 1979, các công ty đã đổ rất nhiều tiền bạc để mua sạch các kho dự trữ dầu với bất cứ giá nào, trong đó số thùng dầu bổ sung vượt xa nhu cầu thực tế. Các thùng dầu bổ sung này không phải để cung cấp cho động cơ xe hơi, nhà máy sản xuất hay các nhà máy điện, mà là để dự trữ. Khi chiến tranh bùng nổ, các tàu chở dầu dự trữ sẽ tràn ngập khắp thế giới và các công ty dầu mỏ sẽ sử dụng các tàu siêu tải chở dầu làm phương tiện dự trữ nổi bổ sung. Chi phí dự trữ dầu là cực đắt. Trong giai đoạn bình ổn hiện tại, buộc phải lựa chọn giữa việc mua dầu bổ sung hay dựa vào các kho dự trữ dầu hiện có, các công ty thường chọn cách thứ hai.
Nhưng nay, cuộc chiến Iran - Iraq đã đảo lộn sự bình yên, một lần nữa châm ngòi cho tình trạng mua dầu vì lo lắng. Và không phải mọi công ty đều có ý định nghe theo thông điệp của Cơ quan năng lượng quốc tế và tránh “mua hàng không như mong muốn”.
Tháng 11/1980, một nhà máy lọc dầu phàn nàn: “Bất kể chúng tôi đã kìm hãm như thế nào, vẫn có người sẵn sàng mua với mức giá cao hơn, và do đó, đẩy giá thị trường lên theo”. Điều băn khoăn nhất là các công ty sẽ làm thế nào để quản lý được khối lượng hàng dự trữ của mình trong cuộc khủng hoảng mới này. Cùng với nỗi hoang mang lo lắng thì xu hướng tất yếu là giữ và tích trữ hàng để theo dõi diễn biến tình hình.
Chi phí cao khiến nguồn cung giảm, đặc biệt trong tình trạng giá dầu vẫn tiếp tục tăng cao như hiện tại. Vì vậy, một lần nữa, rất nhiều công ty đã hối hả tìm kiếm nguồn dự trữ trên khắp thế giới. Trong số đó, có các công ty thương mại và dầu khí Nhật Bản. Điều này phản ánh mối quan ngại rằng Tokyo sẽ phải đối mặt tình trạng khan hiếm dầu trên diện rộng.
Tuy nhiên, Nhật Bản không phải quốc gia duy nhất gánh chịu số phận đen đủi. Giám đốc điều hành một công ty của Mỹ đã tổng kết vấn đề khi nhận định việc tiếp tục dự trữ dầu “có thể khiến chúng ta lún sâu hơn vào những rắc rối sau này”.
Ông giải thích: “Các tập đoàn thương mại không đủ khả năng thanh toán chi phí dự trữ dầu. Những đề xuất giảm dự trữ dầu sẽ giúp liên quan đến thời gian kết thúc khủng hoảng. Nếu tôi biết sản lượng dầu của Iraq và Iran vào tháng 7 này có thể đạt bằng mức trước chiến tranh, chắc chắn tôi sẽ ngừng dự trữ dầu”. Nhưng vấn đề là, ông không biết chắc về điều đó.
Daniel Yergin
Omega+ và NXB Thế giới