Chiến tranh trên 'gương mặt người đàn bà'

Chiến tranh trên 'gương mặt người đàn bà'
4 giờ trướcBài gốc
Từ con tin đến "chiến lợi phẩm" chiến tranh
Trong thời phong kiến, đa phần phụ nữ có thể được xem là “chiến lợi phẩm” của chiến tranh. Trong các cuộc xung đột Địa Trung Hải thế kỷ XIII-XV, hàng nghìn phụ nữ trẻ từ vùng Balkan, Biển Đen, Bắc Phi bị bắt và bán làm nô lệ gia đình tại các đô thị châu Âu ở Venice, Genoa, Barcelona.
Chiến tranh biến không ít phụ nữ có nguy cơ trở thành tài sản có thể định giá, ký tên mua bán. Cơ thể họ bị biến thành công cụ phục vụ kinh tế và sinh sản cho xã hội thời chiến. Tại Trung Quốc, khi một triều đại sụp đổ, thân thể phụ nữ thường trở thành chiến tuyến cuối cùng của danh dự quốc gia, họ phải chết để giữ tiết hạnh thay cho vinh quang đã mất của đàn ông. Khi nhà Minh sụp đổ năm 1644, Chu Hoàng hậu và Trương Hoàng hậu phải thắt cổ tuẫn tiết, gần 200 cung nữ gieo mình xuống sông tự tận, còn cung nữ Phí Thị mới 16 tuổi đâm chết tướng giặc rồi cũng tự vẫn. Tại Việt Nam, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40-43 sau Công nguyên là dấu mốc quan trọng, mở đầu cho cuộc đấu tranh giành độc lập lâu dài của dân tộc Việt Nam chống lại ngoại xâm.
Thời Thế chiến I, cuộc phong tỏa lương thực mà Anh áp đặt lên Đức khiến nguồn thực phẩm khan hiếm nghiêm trọng. Báo chí lúc đó miêu tả những người phụ nữ đứng xanh xao trong những hàng dài trước cửa tiệm không còn đủ nước mắt để nói về cái chết của chồng mình, họ chỉ thì thầm với nhau về cái bụng đói của con, về những đêm trẻ khóc cạn sữa, về nỗi sợ sáng mai không biết lấy gì lót dạ. Hậu quả là hàng loạt phụ nữ và trẻ em hoặc chết đói hoặc rơi vào suy dinh dưỡng trầm trọng; nhiều nghiên cứu sau này cho thấy tình trạng thiếu ăn kéo dài trong chiến tranh đã ảnh hưởng trực tiếp đến chiều cao và sức khỏe của cả một thế hệ sinh ra vào thời điểm đó.
Trong Thế chiến II, cuộc diệt chủng của Đức Quốc xã đã khiến khoảng 6 triệu người Do Thái thiệt mạng và trong cỗ máy hủy diệt ấy, phụ nữ Do Thái là nạn nhân của đói khát, lao động khổ sai, thí nghiệm y khoa và sự tước đoạt nhân phẩm đến tận cùng. Tại trại tập trung Auschwitz, mỗi ngày hàng nghìn thi thể bị thiêu.
Có những căn “hộp” chật hẹp, 5-10 phụ nữ bị nhốt trong không gian chỉ cao chưa đến một m. Khi Hồng quân Liên Xô (cũ) giải phóng trại ngày 27/1/1945, họ thấy những người phụ nữ sống sót gầy trơ xương, ôm chặt bánh mì dưới gối vì sợ ngày mai lại đói. Svetlana Alexievich sau này đã tái hiện một lát cắt đau đớn: Một bé gái trước khi bị bắn còn cầu xin lính Đức “hãy chôn mình nông một chút để mẹ về còn tìm thấy” trong “Chiến tranh không có gương mặt đàn bà”.
Ở châu Á, rất nhiều phụ nữ đã trở thành nạn nhân của chủ nghĩa quân phiệt ở Nhật Bản trước và trong Thế chiến II.
Hanna Schmitz trong Người đọc là một người phụ nữ mù chữ, một "bánh răng" trong cỗ máy chiến tranh của Hitler. Qua Hanna, Schlink khắc họa hình ảnh một phụ nữ bị guồng quay lịch sử nghiền nát: Bà vừa là kẻ thủ ác lạnh lùng, vừa là nạn nhân của một hệ thống giáo dục thất bại và một thời đại tàn bạo.
"Phía bên kia" cuộc chiến không chỉ có sự tàn ác, mà còn có những tâm hồn phụ nữ bị đông cứng trong nỗi nhục nhã và sự im lặng kéo dài hàng thập kỷ sau khi tiếng súng đã tắt. Cuối cùng, Hanna tự vẫn, một cái chết biểu tượng cho sự bế tắc của một thế hệ phụ nữ Đức: Họ không thể dung hòa giữa bản năng con người yếu đuối và những tội ác không thể dung thứ mà chiến tranh đã bắt họ thực thi.
Sau Chiến tranh Lạnh, những cuộc xung đột mang màu sắc hiện đại tiếp tục đẩy số phận của rất nhiều phụ nữ vào vị trí mong manh nhất. Từ Sudan, Tigray, Sierra Leone đến Yemen, Gaza hay Ukraine, chiến tranh không chỉ là trận địa của súng đạn mà còn kéo dài bằng bạo lực giới, mất an toàn nhân đạo và sự loại trừ phụ nữ khỏi các quyết định hòa bình, khiến phụ nữ tiếp tục trở thành một trong những nhóm chịu nhiều thiệt thòi nhất trong thời hiện đại.
Ở Ukraine, 3 năm chiến tranh đã khiến hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái cần hỗ trợ nhân đạo, hàng nghìn phụ nữ và hàng trăm bé gái đã thiệt mạng và bạo lực giới gia tăng đáng kể so với trước chiến tranh, trong khi nhiều phụ nữ phải di tản khỏi quê hương, mất việc làm và đối mặt với áp lực kinh tế - xã hội nặng nề.
Tại Gaza, hậu quả của xung đột kéo dài là thảm họa nhân đạo đối với phụ nữ Palestine: Hệ thống y tế bị phá hủy đến mức phụ nữ có nguy cơ tử vong do mang thai và sinh con cao gấp 3 lần so với trước chiến tranh, và các cơ sở chăm sóc thiết yếu như chăm sóc sức khỏe sinh sản gần như không còn khả năng hoạt động. Các kêu gọi hỗ trợ nhân đạo của các cơ quan thuộc Liên hợp quốc luôn xuất hiện hình ảnh phụ nữ và trẻ em gái trong nỗi đau tột cùng của cửa mất nhà tan và đói khát cùng kiệt. Không chỉ để lấy lòng thương, điều đó còn phản ánh thực tại phụ nữ gánh chịu cuộc chiến trong mỗi gia đình, ngay cả khi tiếng súng trên chiến trường đã tắt.
Sự thay đổi nhận thức
Các nghiên cứu về phụ nữ và chiến tranh cho thấy không chỉ thực tiễn tham gia mà cả nhận thức xã hội về vai trò của họ trong xung đột đã thay đổi theo thời gian. Một bài phân tích về xu hướng dư luận nhận thấy kể từ những năm 1980, tỷ lệ người Mỹ ủng hộ việc cho phép phụ nữ phục vụ trong các vị trí chiến đấu đã gia tăng đáng kể, từ mức khoảng 1/3 trong các vị trí chiến đấu trực tiếp tăng lên đa số ủng hộ trong các cuộc thăm dò gần đây.
Điều này phản ánh sự dịch chuyển quan điểm về năng lực và vị trí của phụ nữ trong quân đội Mỹ. Đồng thời, báo cáo của Pew Research ghi nhận rằng kể từ khi lực lượng quân đội Mỹ chuyển sang lực lượng tình nguyện vào năm 1973, tỷ lệ phụ nữ phục vụ trong lực lượng đã tăng mạnh, từ 2% lên khoảng 14% trong lực lượng thường trực và tỷ lệ nữ sĩ quan cũng tăng đáng kể.
Đồng thời, phân tích cho thấy phụ nữ trong quân đội có những đặc điểm nhân khẩu học và trải nghiệm khác biệt so với nam giới, trong đó nữ cựu chiến binh hậu sự kiện 9/11 có xu hướng chỉ trích các cuộc chiến hơn nam giới.
Các số liệu này không chỉ phản ánh sự gia tăng sự hiện diện của phụ nữ trong lực lượng vũ trang mà còn cho thấy nhận thức công chúng và vai trò phụ nữ trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng, đồng thời mở ra các câu hỏi về cách các xã hội hiện đại đánh giá sự tham gia và đóng góp của phụ nữ trong vấn đề chiến tranh và hòa bình.
Cần viết lại diễn ngôn mới về thế giới hòa bình
Đã ngót nghét gần 400 năm kể từ khi Thomas Hobbes xuất bản cuốn sách Leviathan (1651) tuyên bố với thế giới rằng trạng thái tự nhiên của con người là chiến tranh, và hòa bình thực chất chỉ sự thỏa hiệp tạm thời.
Quan điểm của Thomas Hobbes vẫn luôn là một bóng ma ám ảnh về một thế giới chẳng có nhiều gì hy vọng vào hòa bình. Nhà văn đoạt giải Nobel Văn học Svetlana Alexievich dù lấy tên tác phẩm của bà là“Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ, nhưng những gì trong tác phẩm nêu lại như làm dày thêm cái nhìn "hằng số" của Hobbes. Qua đó, tác giả phơi bày sự phi nhân tính của chiến tranh khi buộc những tâm hồn vốn nhạy cảm và bao dung phải cầm súng giết chóc.
Nhưng tại sao thế giới lại vận hành như vậy? Nếu thế giới là một thực tại do con người tự vẽ ra và hành động dựa trên niềm tin về trật tự tưởng tượng đó, như nhà sử học Do Thái Yuval Noah Harari đã phân tích (trong Sapiens: Lược sử loài người); hay như lập luận của Foucault ( trong Khảo cổ học tri thức), diễn ngôn không chỉ là ngôn ngữ, mà là một hệ thống quyền lực định hình cách chúng ta tư duy.
Diễn ngôn kiến tạo nên thực tại vì con người không nói về thế giới như nó vốn có, thay vào đó, cách chúng ta nói (diễn ngôn) đã "vẽ" ra thực tại đó (và sau đó là hành động). Phải chăng chiến tranh chính là hậu quả của một một “trật tự tưởng tượng” tàn khốc nhất. Và nếu còn tin vào những khái niệm tưởng tượng để cùng lao vào một cuộc chiến, trên gương mặt đàn bà sẽ còn thêm nhiều nỗi đau hằn sâu.
Vì vậy, nhân loại cần viết lại một diễn ngôn mới về hòa bình trên những gương mặt người đàn bà xinh đẹp mang hình hài Trung Đông. May chăng điều đó có thể làm cho những gương mặt đàn bà nở hoa trong một thế giới hòa bình.
Từ thời Cổ đại phụ nữ đã là bị đem ra làm cái cớ cho các đế chế mở màn chiến tranh. Cô gái đầu tiên được ghi lại là nàng Io trong cuộc chiến tranh Ba Tư – Hy Lạp (499 TCN đến 449 TCN). Ông tổ của ngành sử học Herodotos đã viết bộ sử thành văn đầu tiên của nhân loại (Historiai), kể câu về nguồn gốc xung đột Đông - Tây với xuất phát từ một nàng công chúa. Theo đó, vụ bắt cóc nàng (con gái vua Argos) của những thương nhân Phoenician được xem là "phát súng" đầu tiên mở màn cho chuỗi thù hận xuyên lục địa. Người Phoenician đã lừa các phụ nữ Hy Lạp lên tàu xem hàng rồi bắt cóc họ sang Ai Cập để bán. Để trả đũa, người Hy Lạp sau đó bắt cóc nàng Europe của vùng Tyre và Medea của vùng Colchis, dẫn đến việc vương tử Paris của Troy bắt cóc nàng Helen. Người Ba Tư cho rằng trong khi việc bắt cóc là sai trái, thì việc người Hy Lạp phát động đại chiến chỉ vì những người phụ nữ là một sai lầm và phản ứng thái quá. Chính chuỗi "ăn miếng trả miếng" mang tính chất bắt cóc phụ nữ này, theo cách lý giải của người Ba Tư qua ngòi bút Herodotus, đã gieo mầm cho sự thù nghịch vĩnh viễn giữa Hy Lạp và các đế chế Á Đông (bao gồm Ba Tư sau này).
TS. Lý Hải Yến
Nguồn TG&VN : https://baoquocte.vn/chien-tranh-tren-guong-mat-nguoi-dan-ba-365461.html