Chính sách khí hậu trong ngành giao thông Latvia: Thiếu hiệu quả và công bằng

Chính sách khí hậu trong ngành giao thông Latvia: Thiếu hiệu quả và công bằng
2 giờ trướcBài gốc
Ngành giao thông vận tải hiện chiếm khoảng 31% tổng lượng phát thải khí nhà kính của Latvia. Ảnh: News.sky
Thiếu định hướng thống nhất
Ngành giao thông vận tải của Latvia hiện chiếm khoảng 31% tổng lượng phát thải khí nhà kính (GHG) của quốc gia này. Với tư cách là thành viên EU, Latvia đã cam kết thực hiện các mục tiêu khí hậu nâng cao vào cuối thập kỷ này. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán chỉ rõ, nhiều điều kiện tiên quyết để hoàn thành các mục tiêu trên vẫn chưa được bảo đảm.
Kế hoạch Năng lượng và Khí hậu Quốc gia (NECP) của Latvia đã đề ra 35 biện pháp chiến lược cho lĩnh vực giao thông vận tải đến năm 2030. Song, theo đánh giá của KTNN Latvia, kế hoạch này thiếu một định hướng chủ đạo rõ ràng nhằm tạo đóng góp thực chất cho mục tiêu cắt giảm phát thải. Có tới 66% số biện pháp chưa xác định được mức độ tác động cụ thể đến giảm phát thải GHG; 69% đối mặt với rủi ro triển khai ở mức trung bình hoặc cao; trong khi 31% vẫn chưa được khởi động. Không chỉ thiếu định hướng ưu tiên, hiệu quả chi phí giữa các biện pháp cũng có sự chênh lệch đáng kể.
Áp lực càng lớn hơn khi xét tới bài toán tài chính. Trong tổng số 2,9 tỷ Euro cần thiết để triển khai các biện pháp của NECP, hiện mới chỉ xác định được nguồn cung ứng cho 41% kinh phí. Một phần nguồn vốn đã được điều chuyển sang các hạng mục không đóng góp trực tiếp cho mục tiêu khí hậu. Điển hình là việc phân bổ hơn 100 triệu Euro cho dự án đường sắt Rail Baltica - dự án không nằm trong danh mục của NECP và không đóng góp vào các mục tiêu cụ thể đến năm 2030.
Hiện việc triển khai chính sách liên quan đến khí hậu, năng lượng, giao thông và thuế khóa được chia sẻ giữa Bộ Khí hậu và Năng lượng, Bộ Giao thông, Bộ Tài chính và Bộ Kinh tế. Tuy nhiên, Bộ Giao thông - cơ quan giữ vai trò điều phối chính của ngành - vẫn chưa được trang bị đầy đủ công cụ cần thiết để tổ chức thực thi chính sách một cách hiệu quả.
Ông Mārtiņš Āboliņš - thành viên Hội đồng KTNN Latvia - nhấn mạnh: “Kết quả kiểm toán cho thấy vấn đề không nằm ở các biện pháp riêng lẻ mà nằm ở cách tiếp cận tổng thể. Chính sách khí hậu ngành giao thông của Latvia hiện đang thiếu một hướng đi thống nhất và thứ tự ưu tiên rõ ràng. Nếu không có sự hỗ trợ tập trung cho những đối tượng dễ bị tổn thương nhất, chính sách khí hậu không chỉ trở nên kém hiệu quả mà còn có nguy cơ gây bất công xã hội”.
Chậm thích ứng với chuyển dịch xanh trong lĩnh vực nhiên liệu
Một trong những phát hiện đáng chú ý của cuộc kiểm toán là Latvia chưa có sự chuẩn bị đầy đủ cho quá trình chuyển dịch lớn trong ngành nhiên liệu.
Dù NECP đề ra 35 biện pháp thực hiện trong lĩnh vực giao thông vận tải, nhưng tới 86% mục tiêu cắt giảm phát thải GHG lại phụ thuộc vào một biện pháp duy nhất là nghĩa vụ giảm cường độ phát thải GHG áp đặt lên các nhà cung cấp nhiên liệu. Trong khi đó, năng lượng phục vụ giao thông tại Latvia hiện vẫn gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhiên liệu hóa thạch.
Theo yêu cầu của EU, đến năm 2030, Latvia phải đạt tỷ trọng năng lượng tái tạo tối thiểu 29% hoặc giảm ít nhất 14,5% cường độ phát thải GHG. Đồng thời, quốc gia này phải thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sinh học hiện đại, khí sinh học và các loại nhiên liệu tái tạo khác. Đặc biệt, từ năm 2028, Hệ thống mua bán phát thải mới (ETS 2) sẽ được áp dụng, đồng nghĩa chi phí phát thải CO2 sẽ được tính trực tiếp vào giá nhiên liệu.
Tuy nhiên, KTNN Latvia cho biết việc triển khai đầy đủ các quy định về nhiên liệu của EU tại Latvia diễn ra chậm trễ, đến cuối năm 2025 mới hoàn tất, dù các quy định này đã được công bố từ lâu. Đáng chú ý, Latvia hiện chưa xây dựng được một tầm nhìn tích hợp về phi carbon hóa giao thông cũng như các điều chỉnh cần thiết trong chính sách thuế, dù thuế hiện chiếm khoảng 50 - 55% giá thành nhiên liệu. Điều này đồng nghĩa việc thực thi các yêu cầu mới có thể tạo ra sức ép đáng kể lên chi phí sinh hoạt.
Là quốc gia đứng thứ sáu trong EU về tỷ lệ cư dân có nguy cơ nghèo đói hoặc bị loại trừ xã hội vào năm 2024, Latvia hiện có khoảng 243.000 hộ gia đình đang đối mặt với tình trạng “nghèo giao thông” và nguy cơ tăng giá nhiên liệu có thể khiến tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.
Mặc dù Latvia có thể tiếp cận nguồn vốn 217 triệu Euro từ Quỹ Khí hậu Xã hội để giảm thiểu tác động xã hội khi ETS 2 có hiệu lực, KTNN Latvia cho rằng các biện pháp hiện nay vẫn chưa đủ để giải quyết vấn đề này. Các cơ chế hỗ trợ thay thế cũng chưa được thiết lập đầy đủ, làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng xã hội và suy giảm sự ủng hộ của công chúng đối với chính sách khí hậu.
Trong khi đó, sự phát triển của nhiên liệu thay thế cũng đối mặt nhiều rào cản. Tỷ trọng nhiên liệu sinh học tại Latvia mới đạt 8,8% vào năm 2024, thấp hơn mức trung bình khoảng 11% của EU. Nguyên nhân được xác định là do năng lực sản xuất trong nước thấp, phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, thiếu khung chính sách điều phối rõ ràng và các biện pháp hỗ trợ còn hạn chế.
Chính sách xe điện dàn trải, thiếu công bằng xã hội
Tăng cường sử dụng xe điện được Latvia xác định là một trong những trọng tâm nhằm phi carbon hóa lĩnh vực giao thông vận tải. Giai đoạn 2020-2025, số lượng xe điện tại Latvia đã tăng khoảng 21 lần, từ 658 xe lên xấp xỉ 14.000 xe. Trong cùng giai đoạn, khoảng 31 triệu Euro đã được chi cho các chương trình hỗ trợ mua xe điện; hơn 6 triệu Euro khác được sử dụng cho các cơ chế hỗ trợ từ Trung ương và địa phương.
Công tác quản lý hạ tầng trạm sạc của Latvia bộc lộ nhiều bất cập. Ảnh: ST
NECP dự kiến tăng thêm 20.000 phương tiện không phát thải vào năm 2030 thông qua duy trì các chương trình hiện có và triển khai các chương trình hỗ trợ mới. Tổng nhu cầu đầu tư cho mục tiêu này ước tính khoảng 600 triệu Euro, bao gồm cả tài trợ từ khu vực tư nhân.
Tuy nhiên, kết quả kiểm toán cho thấy các chính sách hỗ trợ xe điện hiện vẫn thiếu sự phối hợp tổng thể. Các công cụ hỗ trợ hoạt động rời rạc, thiếu cơ chế giám sát tập trung và chưa có chính sách thống nhất kết nối giữa hỗ trợ mua xe, phát triển hạ tầng trạm sạc và ưu đãi tài chính.
Không chỉ có vậy, chi phí thực tế của các chính sách hỗ trợ chưa được hạch toán đầy đủ; chưa xây dựng điều kiện xem xét hoặc lộ trình cắt giảm dần mức hỗ trợ theo diễn biến thị trường. Hiệu quả hỗ trợ đối với xe hybrid sạc ngoài (PHEV) cũng chưa được đánh giá toàn diện, dù đây là nhóm phương tiện tiềm ẩn nhiều rủi ro về hiệu quả giảm phát thải thực tế.
Một vấn đề đáng quan tâm khác là khả năng tiếp cận chính sách của các nhóm xã hội khác nhau. Theo kiểm toán, phần lớn hỗ trợ mua xe điện hiện tập trung vào nhóm cư dân có thu nhập trung bình và cao. Trong khi đó, các nhóm yếu thế gần như khó tiếp cận hỗ trợ ngay cả khi có đồng tài trợ từ Nhà nước.
Từ năm 2026, Latvia dự kiến dành 70 triệu Euro từ Quỹ Khí hậu Xã hội để hỗ trợ khoảng 4.000 người thuộc nhóm yếu thế mua xe điện. Tuy nhiên, KTNN Latvia cảnh báo nhóm đối tượng mục tiêu vẫn chưa được xác định rõ ràng; nhu cầu và khả năng tài chính của người dân chưa được đánh giá đầy đủ, dẫn tới nguy cơ nguồn hỗ trợ không đến đúng đối tượng cần thiết nhất.
Công tác quản lý hạ tầng trạm sạc cũng bộc lộ nhiều bất cập. Dù Latvia đã xây dựng nền tảng mạng lưới với 139 trạm sạc trên toàn quốc, hệ thống này đang lỗ trung bình khoảng 380.000 Euro mỗi năm và phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn 2020-2025, Nhà nước đã phải bù lỗ tổng cộng 2,37 triệu Euro. Ngoài ra, các bất cập trong tính toán biểu giá sạc và phân bổ chi phí khiến ngân sách quốc gia phải gánh thêm ít nhất 722.000 Euro trong vòng 5 năm qua.
Trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN Latvia đã đưa ra 9 kiến nghị gửi tới Bộ Giao thông, Bộ Khí hậu và Năng lượng cùng Cục An toàn Giao thông Đường bộ (CSDD). Các kiến nghị tập trung vào việc tăng cường hiệu quả phối hợp chính sách, thúc đẩy phát triển nhiên liệu sinh học hiện đại và nhiên liệu thay thế, xây dựng chính sách quốc gia thống nhất về xe điện, đồng thời bảo đảm quá trình chuyển đổi xanh diễn ra công bằng hơn đối với các nhóm yếu thế trong xã hội./.
(Theo lrvk.gov.lv)
THIÊN LAM
Nguồn Kiểm Toán : https://baokiemtoan.vn/bai-viet/chinh-sach-khi-hau-trong-nganh-giao-thong-latvia-thieu-hieu-qua-va-cong-bang