Cơ chế mới về tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2026/NĐ-CP ngày 16-3-2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính; có hiệu lực từ ngày 1-5-2026. Nghị định này gồm 3 chương, 15 điều quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính của cơ quan nhà nước.
Nghị định quy định kinh phí quản lý hành chính giao cho cơ quan thực hiện chế độ tự chủ từ các nguồn sau: 1. Nguồn ngân sách nhà nước cấp chi quản lý hành chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được xác định để giao tự chủ theo quy định tại Nghị định này. 2. Các nguồn thu hợp pháp theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
Thực hiện quy định về tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Từ ngày 10-5-2026, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm hưu trí bổ sung có hiệu lực. Điểm nổi bật của Nghị định là các quy định liên quan đến đối tượng, phương thức, quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Viên chức BHXH và Bưu điện TPHCM tư vấn chính sách BHXH, BHYT cho người dân (ẢNH: NGÔ BÌNH)
Nghị định quy định đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
Nghị định quy định việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động. Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
Nghị định 133/2026/NĐ-CP ngày 6-4-2026 của Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong sử dụng điện và mức xử phạt tương ứng. Cụ thể, đối với trường hợp người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê cao hơn mức quy định, nếu mua điện theo giá bán lẻ điện phục vụ sinh hoạt thì sẽ bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng.
Ngoài ra, các hành vi khác liên quan đến sử dụng điện sẽ bị phạt như sau: Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng: không thông báo khi giảm số hộ dùng chung công tơ hoặc kê khai sai số người để hưởng định mức điện sinh hoạt; Phạt tiền từ 5-8 triệu đồng: tự ý lắp đặt, đóng, cắt, sửa chữa, di chuyển, thay thế thiết bị hoặc công trình điện của bên bán điện; Phạt tiền từ 4-10 triệu đồng: trộm cắp điện có giá trị dưới 1 triệu đồng; Phạt tiền từ 10-20 triệu đồng nếu trộm cắp điện có giá trị từ 1 - dưới 2 triệu đồng.
Phạt tiền từ 60-80 triệu đồng: sử dụng điện lớn gồm thiết bị không đạt chuẩn, không tuân thủ điều độ, không cắt giảm điện, không đầu tư hệ thống đo đếm theo quy định. Nghị định 133/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25-5-2026.
Quy định mới về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì
Ngày 1-4-2026, Chính phủ ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR). Nghị định có hiệu lực từ ngày 25-5-2026.
Theo quy định, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện tái chế sản phẩm, bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường Việt Nam. Trường hợp ủy thác nhập khẩu, đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tái chế. Điều này làm rõ trách nhiệm pháp lý, hạn chế tình trạng “né” nghĩa vụ môi trường.
Nghị định cũng quy định một số trường hợp được miễn trách nhiệm tái chế, như doanh nghiệp có doanh thu dưới 30 tỷ đồng/năm hoặc sản phẩm phục vụ xuất khẩu, nghiên cứu. Tuy nhiên, về dài hạn, chính sách vẫn hướng tới mở rộng phạm vi áp dụng nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp…
Sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời trên ứng dụng VNeID
Nghị định số 88/2026/NĐ-CP ngày 28-3-2026 của Chính phủ nêu rõ, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo thẩm quyền có trách nhiệm chuẩn bị, xây dựng hệ thống công nghệ hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp phục vụ việc tạo lập, báo cáo dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời theo quy định.
Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời sau khi được tiếp nhận, lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo sẽ được chia sẻ, liên thông tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNelD.
Các cá nhân có quyền khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của bản thân đã được tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia để sử dụng tương đương cho các loại văn bản giấy liên quan. Nghị định số 88/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 15-5-2026.
BỘ PHẬN CTBĐ