Chống lãng phí - Bài 5: Kiến tạo nền quản trị thông minh để mở khóa thị trường

Chống lãng phí - Bài 5: Kiến tạo nền quản trị thông minh để mở khóa thị trường
2 giờ trướcBài gốc
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong thập niên tới không chỉ là một chỉ tiêu phát triển, mà là sự lựa chọn chiến lược mang tính bước ngoặt. Ảnh: TL
Các nguyên tắc cơ bản của chống lãng phí
Nhiều nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 và cả giai đoạn 5 năm sắp tới vẫn dựa trên những động lực quen thuộc, nhưng nằm trong một cấu trúc mới. Ở đó, cấu trúc được thể hiện ở góc độ đầu tư đủ mạnh, lao động đủ năng suất và TFP (năng suất các nhân tố tổng hợp) đủ cao, khai thác có hiệu quả thị trường trong và ngoài nước.
Đặc biệt, trong bối cảnh môi trường quốc tế ngày càng phức tạp, tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chậm lại, trong khi các rủi ro về địa chính trị, biến đổi khí hậu và đứt gãy chuỗi cung ứng tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, nền kinh tế cũng dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài, đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia đang áp dụng các chính sách tài chính mới, yêu cầu về quản trị nhà nước để đảm bảo khả năng kiểm soát vĩ mô trong nước, từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tại các nền kinh tế tăng trưởng cao, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thường đóng góp tỷ trọng lớn trong tăng trưởng. Với Việt Nam, theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV mục tiêu nâng tỷ trọng TFP lên trên 50% trong nhiệm kỳ tới là tham vọng đáng kể nhưng cần thiết trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chậm lại.
Nghiên cứu của nhiều tổ chức quốc tế cũng chỉ ra rất rõ, để đạt mục tiêu 2045, Việt Nam phải đồng thời nâng năng suất lên mức khoảng 1,8%/năm và duy trì tỷ lệ đầu tư khoảng 36% GDP. Nếu chỉ dựa vào đầu tư, tỷ lệ này có thể phải tăng tới 49% GDP — một mức phi thực tế; còn nếu chỉ trông vào năng suất, thì đòi hỏi phải bứt phá vượt xa mức hiện nay. Những cảnh báo ấy cho thấy việc thay đổi mô hình cũ, mở cơ chế thị trường cho việc định hình mô hình tăng trưởng mới là điều cần thiết vào thời điểm hiện tại.
Lưu ý rằng, trong môi trường nhiều biến số đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm sáng tương đối ổn định trong khu vực. Moody’s Ratings hiện xếp hạng Việt Nam ở mức Ba2 với triển vọng ổn định, phản ánh nền tảng tài khóa và cán cân thanh toán đã cải thiện đáng kể. Nợ công được kiểm soát trong ngưỡng an toàn; cơ cấu nợ chuyển dịch theo hướng kéo dài kỳ hạn và tăng tỷ trọng vay trong nước, góp phần giảm rủi ro thanh khoản và tỷ giá. Thặng dư thương mại cùng dòng vốn đầu tư ổn định tiếp tục củng cố cán cân thanh toán, tạo lớp đệm quan trọng trước các cú sốc bên ngoài.
Tuy nhiên, ổn định vĩ mô mới là điều kiện cần, điều kiện đủ là một mô hình tăng trưởng mới vận hành thông suốt. Trong ba yếu tố quyết định tăng trưởng là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ, thì đầu tư vẫn là động lực quan trọng nhất đối với Việt Nam.
Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, với nhu cầu đầu tư hạ tầng và năng lượng quy mô lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn lực đầu tư công sẽ khó đáp ứng. Vì vậy, huy động hiệu quả vốn đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài, là lựa chọn tất yếu nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Tất nhiên, mở rộng quy mô đầu tư phải đi cùng nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn. Điều này chỉ có được không còn cách nào khác ngoài việc cải cách thể chế môi trường kinh doanh, giảm chi phí cho doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới quản trị và minh bạch hóa hoạt động; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, từ vốn, đất đai đến công nghệ và thị trường, đồng thời thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo kỹ năng số, kỹ năng quản lý, cũng như đẩy mạnh liên kết trong nước và quốc tế.
Trong bối cảnh đó, khối tư nhân sẽ có điều kiện thuận lợi nhất để trở thành động lực bứt phá, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng cao theo đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã nêu rõ.
Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đang khẳng định vai trò ngày càng quan trọng khi đóng góp gần 45% GDP cả nước, chiếm hơn 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tạo việc làm cho khoảng 85% lực lượng lao động, đồng thời chiếm tới 35% tổng kim ngạch nhập khẩu và 25% kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng các đóng góp này vẫn chủ yếu đến từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động ở phân khúc giá trị gia tăng thấp, năng suất hạn chế và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu.
Nhiều doanh nghiệp khi chia sẻ với TheLEADER cho hay, họ mong muốn nâng tầm, không thiếu khát vọng và quyết tâm tham gia mạnh mẽ hơn vào các hoạt động đổi mới sáng tạo nhưng thiếu một hệ sinh thái chính sách đủ minh bạch, ổn định và có thể dự báo để mạnh dạn đầu tư dài hạn. Thực tế này khiến họ bị “mắc kẹt” giữa chi phí vốn cao, khả năng tiếp cận đất đai hạn chế, thủ tục hành chính phức tạp và rủi ro chính sách.
Việc duy trì mức tăng trưởng cao liên tục trong hàng thập niên đòi hỏi những điều kiện kinh tế rất rõ ràng, đặc biệt trong câu chuyện mở cơ chế thị trường. Ảnh: Hoàng Anh
Đơn cử, tại nhiều cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho các dự án bất động sản gần đây, quan điểm của một số bộ, ngành cho rằng, trước khi chờ được gỡ vướng, các doanh nghiệp phải tự cứu lấy mình bằng cách bán bớt sản phẩm, tập trung nguồn lực tài chính để thực hiện những dự án có hiệu quả.
Tuy nhiên, để làm được điều này, vấn đề cốt lõi vẫn là hoàn thiện pháp lý dự án, vì nếu pháp lý chưa đầy đủ, doanh nghiệp sẽ không thể triển khai dự án và đưa sản phẩm ra thị trường, còn ngân hàng sẽ gặp khó trong việc tái cấu trúc nợ nên khó có thể cho vay thêm, tất cả những yếu tố này đều ảnh hưởng tới nguồn cung và dòng vốn vào thị trường bất động sản.
Đặc biệt, trong bối cảnh các chính sách tiền tệ bị thắt chặt, TS. Nguyễn Văn Đính – Chủ tịch Hội môi giới bất động sản Việt Nam cho rằng, mặt bằng lãi suất tăng trong giai đoạn này đang trở thành "bài kiểm tra" về sức chịu đựng của thị trường, dù đồng thời là cơ chế sàng lọc tự nhiên đối với các mô hình đầu tư dựa nhiều vào đòn bẩy tài chính.
Ngoài ra, nhiều thách thức khác cũng được chỉ ra khi triển khai các nghị quyết mới được Quốc hội thông qua từ cuối năm ngoái. Đầu tiên là tâm lý e ngại trách nhiệm của đội ngũ thực thi - điều từng làm chậm tiến độ nhiều dự án do cán bộ lo ngại rủi ro pháp lý. Tiếp đến là câu chuyện đảm bảo quyền lợi người dân khi tiến hành thu hồi đất với diện tích đất thu hồi trên 75% có thể dẫn tới khiếu kiện; rủi ro định giá đất sai lệch khi dữ liệu chưa đầy đủ khiến giá đất bị đẩy lên bất hợp lý hoặc ngược lại - thấp hơn thị trường, ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người dân.
Trong một câu chuyện khác, liên quan đến việc gỡ những nút thắt của lĩnh vực bất động sản nghỉ dưỡng trong bối cảnh Việt Nam đang đặt du lịch làm một trong những động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.
Giới đầu tư đã đặt nhiều kỳ vọng vào Luật Kinh doanh bất động sản 2023 và Luật Đất đai 2024, mong muốn hai bộ luật này sẽ "gỡ rối" cho bất động sản nghỉ dưỡng, tuy nhiên, thực tế vẫn chưa được như mong đợi.
Cải cách thể chế thực chất để “giải nén” các động lực tăng trưởng
Từ góc nhìn thể chế cho thấy rằng, lãng phí không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là hệ quả của những điểm nghẽn, những kẽ hở và sự thiếu đồng bộ trong hệ thống luật pháp và cơ chế điều hành. Để ngăn chặn lãng phí một cách căn cơ, đòi hỏi một sự tái thiết lập toàn diện các cơ chế chính sách, chuyển đổi từ tư duy "quản lý theo quy trình" sang "quản trị dựa trên kết quả", đồng thời tích hợp các giải pháp kỹ thuật số và quản trị nguồn nhân lực hiện đại để tạo ra một hệ sinh thái công vụ liêm chính, minh bạch và hiệu quả.
Thực tế, sự thay đổi về tư duy quản trị đã bắt đầu mang lại những kết quả tích cực tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM. Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng với việc ứng dụng robot AI và các điểm phục vụ hành chính công thông minh đã giúp người dân giải quyết thủ tục nhanh chóng, giảm thiểu tối đa thời gian đi lại và chi phí không chính thức.
Ngoài ra, cơ chế phân cấp, phân quyền mạnh mẽ giúp nâng cao tính chủ động và khả năng tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.
Tuy nhiên, để tránh tình trạng lạm quyền hoặc thiếu nhất quán, việc phân quyền phải được đặt trong một khuôn khổ giám sát chặt chẽ. Người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về các hành vi gây thất thoát, lãng phí xảy ra trong phạm vi quản lý của mình. Việc xây dựng nền hành chính "tinh, gọn, mạnh" gắn với rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy và loại bỏ các khâu trung gian không cần thiết là đòi hỏi cấp bách để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Nhìn rộng hơn những kinh nghiệm tốt nhất từ các quốc gia OECD và Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho thấy, cuộc đấu tranh chống lãng phí sẽ chuyển dịch từ những nỗ lực mang tính xử lý vụ việc sang quản trị chủ động dựa trên nguy cơ. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) sẽ cho phép chính phủ dự báo được các rủi ro gây lãng phí ngay từ khâu hoạch định chính sách, qua đó, xây dựng xã hội số và niềm tin của nhân dân
Khi niềm tin của người dân được củng cố thông qua một hệ thống hành chính phục vụ, minh bạch và không lãng phí, sức mạnh dân tộc sẽ được nhân lên gấp bội. Các chỉ số về sự hài lòng của người dân, sự tín nhiệm đối với các tổ chức công và hiệu quả của các dịch vụ công sẽ là những thước đo quan trọng nhất cho sự thành công của công cuộc phòng chống lãng phí.
Việt Dương
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/mo-co-che-thi-truong-de-huong-muc-tieu-tang-truong-hai-con-so-d44604.html