Hai tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 11,3 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ.
Thông tin trên được đưa ra tại họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 11/3 tại Hà Nội.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng
Theo ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch-Tài chính, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 2/2026 ước đạt 4,71 tỷ USD, giảm 28,4% so với tháng trước nhưng tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 11,3 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước.
Châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu lớn nhất đối với nông, lâm, thủy sản của Việt Nam, chiếm 45,5% thị phần; tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt 21% và 15,7%. Xét theo từng thị trường, Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản là ba đối tác lớn nhất của Việt Nam, với thị phần tương ứng 22,9%, 18,7% và 7,2%. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 55,9%, sang Mỹ tăng 9,2% và sang Nhật Bản tăng 9,8%.
Một số mặt hàng chủ lực tiếp tục duy trì kết quả tích cực. Xuất khẩu cà-phê đạt 394,3 nghìn tấn, trị giá 1,89 tỷ USD, tăng 22,9% về khối lượng; các thị trường tiêu thụ lớn gồm Đức, Tây Ban Nha và Italia. Xuất khẩu cao su đạt 315 nghìn tấn, trị giá 564,6 triệu USD, tăng 14,3% về khối lượng; trong đó Trung Quốc chiếm hơn 73% tổng kim ngạch.
Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngày 11/3, tại Hà Nội.
Mặt hàng chè đạt 22,4 nghìn tấn với giá trị 38,6 triệu USD, tăng mạnh cả về lượng và giá trị; các thị trường chính gồm Đài Loan (Trung Quốc), Pakistan và Trung Quốc. Xuất khẩu gạo đạt 1,3 triệu tấn với giá trị 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị do giá xuất khẩu bình quân giảm.
Nhóm rau quả ghi nhận mức tăng trưởng cao khi đạt 1,09 tỷ USD, tăng 59,5% so với cùng kỳ; trong đó Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm hơn 58% tổng kim ngạch. Xuất khẩu hạt điều đạt 653,4 triệu USD, tăng hơn 43%; hạt tiêu đạt 259,1 triệu USD, tăng 40,7%. Sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 303 triệu USD, tăng gần 30%.
Ở lĩnh vực thủy sản, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,76 tỷ USD, tăng 23,3%, với các thị trường lớn gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ. Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,61 tỷ USD, tăng 5,8%, trong đó Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch.
Chủ động kịch bản ứng phó biến động thị trường
Tuy nhiên, trước những biến động gần đây của thị trường thế giới, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông, hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam có thể chịu tác động nhất định. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành theo dõi sát tình hình, đánh giá tổng thể tác động để chủ động xây dựng các phương án ứng phó.
Theo đánh giá sơ bộ, biến động giá dầu thế giới có thể làm gia tăng chi phí đầu vào của sản xuất nông nghiệp. Giá năng lượng, vận tải và vật tư sản xuất có xu hướng tăng, đặc biệt giá phân bón urê hiện dao động khoảng 540-545 USD/tấn, mức cao nhất kể từ năm 2025, khiến chi phí sản xuất nông nghiệp có thể tăng khoảng 3%-5%.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, năm 2026 được dự báo sẽ đối mặt nhiều thách thức hơn so với năm trước.
Chi phí logistics cũng có thể gia tăng khi cước vận tải biển dự báo tăng từ 25%-35%, thời gian vận chuyển kéo dài thêm từ 7-14 ngày do phải thay đổi tuyến vận tải để tránh các khu vực xung đột. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gỗ, thủy sản và nông sản chế biến.
Ngoài ra, xung đột địa chính trị cũng có thể tác động gián tiếp đến nhu cầu thị trường khi tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại, làm giảm nhu cầu nhập khẩu nông sản.
Theo số liệu năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang khu vực Trung Đông đạt khoảng 1,74 tỷ USD. Do đó, việc xây dựng các kịch bản ứng phó là cần thiết. Trong trường hợp xung đột kéo dài khoảng một tháng, kim ngạch xuất khẩu có thể giảm khoảng 1 tỷ USD; nếu kéo dài ba tháng, mức giảm có thể lên tới 3 tỷ-3,5 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Đông có thể giảm khoảng 500 triệu USD-600 triệu USD, sang châu Âu giảm khoảng 1,5 tỷ USD-1,6 tỷ USD và sang Bắc Phi giảm khoảng 200 triệu USD-250 triệu USD.
Các kịch bản này đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để tham mưu Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ các giải pháp điều hành phù hợp, trong đó có cơ cấu lại thị trường xuất khẩu và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với biến động của thị trường thế giới.
Phát biểu tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết năm 2026 được dự báo sẽ đối mặt nhiều thách thức hơn so với năm trước, trong đó các biến động địa chính trị có thể tác động đến giá xăng dầu, phân bón và nhiều loại vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.
Trước bối cảnh đó, Bộ đã xây dựng hệ thống giải pháp nhằm chủ động ứng phó với biến động thị trường, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường kiểm soát chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm và vệ sinh thú y.
Cùng với đó, các kịch bản ứng phó thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm an toàn hồ đập, công trình thủy lợi và phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai nhằm bảo đảm sản xuất ổn định.
Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 đạt khoảng 73 tỷ USD-74 tỷ USD; tăng trưởng toàn ngành phấn đấu đạt khoảng 3,5%, trong đó quý I dự kiến đạt khoảng 3,6%. Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng thị trường sẽ góp phần duy trì đà tăng trưởng của ngành, tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong thời gian tới.
THANH TRÀ