Bên cạnh đó cũng đừng nên bắt đầu từ chủ trương: chỉ trường y mới được đào tạo bác sĩ và chỉ các trường chuyên mới đào tạo cử nhân luật!
Những ngày qua, nhiều ý kiến trái chiều bàn về vấn đề đào tạo ngành y và ngành luật xuất hiện trên các báo cũng như các trang mạng xã hội, đã làm dậy sóng dư luận.
Ngành y: Siết đào tạo theo xu hướng quốc tế
Bàn về việc siết chặt đào tạo đối với ngành y, dư luận dễ dàng ủng hộ vì vấn đề bảo vệ sức khỏe con người là tối thượng. Sự hành nghề của bác sĩ trực tiếp liên quan đến sức khỏe, tính mạng và chất lượng sống của người dân. Nếu không chú trọng việc đào tạo nghề này, những rủi ro sai sót y khoa sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, không chỉ đối với người bệnh trong hiện tại mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến thế hệ tương lai. Bên cạnh đó, chuẩn hóa chất lượng và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực y khoa là vấn đề cần thiết. Nhiều quốc gia tiên tiến (như Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ...) đều thực hiện nguyên tắc chỉ các trường y chuyên biệt mới được đào tạo bác sĩ. Bên cạnh đó, Pháp, Đức và Anh cũng cho phép đại học tổng hợp mở ngành y nhưng luôn dưới dạng khoa y chuyên biệt với bệnh viện thực hành. Bệnh viện thực hành là điều kiện bắt buộc để sinh viên y có trải nghiệm thực tế. Như vậy, đào tạo bác sĩ rõ ràng là lĩnh vực đặc thù, liên quan trực tiếp đến tính mạng con người, nên đào tạo phải được kiểm soát nghiêm ngặt. Điều này đã trở thành nguyên tắc quốc tế, được áp dụng rộng rãi ở các quốc gia tiên tiến.
Tuy cũng được xem là đặc thù nhưng việc đào tạo luật không khắt khe như đối với đào tạo ngành y. Minh họa AI: CHI PHAN
Đã đến lúc, Việt Nam cần siết chặt đào tạo đối với ngành y, góp phần củng cố niềm tin vào hệ thống y tế. Thế nhưng "siết chặt" không có nghĩa là "chỉ trường y mới được đào tạo bác sĩ" mà cần siết theo xu hướng quốc tế. Theo đó, nếu không phải là trường y nhưng các trường đang có khoa y chuyên biệt, cần có bệnh viện thực hành, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kiểm định chất lượng của cơ sở đào tạo và cơ sở y tế thực hành đó thì vẫn được tiếp tục đào tạo bác sĩ. Điều này có nghĩa rằng việc chấn chỉnh hướng tới chất lượng, hướng tới bản chất chứ không phải hiện tượng, tên gọi, nhãn mác.
Đặc thù ngành luật khác thế nào?
Tương tự như ngành y, ngành luật cũng thường được đào tạo tại các trường hoặc khoa chuyên biệt, không mở tràn lan như một ngành phụ ở các trường đa ngành. Nhưng khác với ngành y, ngành luật vẫn được nhiều nước tiên tiến cho phép đào tạo bằng các mô hình đa dạng, có thể là trường luật độc lập (như Mỹ, Nhật), hoặc khoa luật trong trường đại học tổng hợp (như Anh, Pháp và nhiều quốc gia khác) hoặc tồn tại cả hai như Việt Nam. Trong đó, có thể kể đến hàng loạt trường đại học đa ngành có khoa luật, như: Harvard, Yale, Stanford, New York, Chicago (Mỹ); Oxford Lon-don School of Economics (Vương quốc Anh); National University (Singapore); Melbourne (Úc); Bắc Kinh (Trung Quốc); Tokyo (Nhật); hay Đại học Hồng Kông (Trung Quốc)… tất cả đều nổi tiếng, lâu đời và có uy tín. Điểm đáng lưu ý là sự thành công của các trường này trong việc đào tạo luật không gắn kèm điều kiện có "công ty luật thực hành" như "bệnh viện thực hành" đối với việc đào tạo ngành y trong trường đại học tổng hợp.
Như vậy, tuy cũng được xem là đặc thù nhưng việc đào tạo luật không khắt khe như đối với đào tạo ngành y. Bởi lẽ, người tốt nghiệp ngành luật không phải nghiễm nhiên trở thành luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên, công chứng viên hay các chức danh tư pháp khác mà tất cả đều phải trải thêm một quá trình đào tạo, tập sự và bổ nhiệm khác nhau. Hiện nay, quy trình này được quy định rõ trong các luật chuyên ngành tương ứng. Chẳng hạn, để trở thành thẩm phán, một cử nhân luật còn phải đạt 5 tiêu chuẩn khác (theo Điều 94) và có đủ các điều kiện theo Điều 95 Luật Tổ chức TAND năm 2024 (sửa đổi) mới "có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm thẩm phán TAND". Theo đó, 2 điều kiện bắt buộc là "Có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 5 năm trở lên; có năng lực xét xử, giải quyết những vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án theo quy định của pháp luật" và "Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn thẩm phán TAND". Bên cạnh đó, không phải như các loại công chức khác (sau khi trúng tuyển thì được lãnh đạo cơ quan ra quyết định tuyển dụng), chức danh thẩm phán phải được Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia xem xét tuyển chọn để đề nghị Chánh án TAND Tối cao trình Chủ tịch nước quyết định bổ nhiệm. Tương tự như vậy, các chức danh tư pháp khác cũng phải trải qua những quy trình bổ nhiệm nghiêm ngặt nên cần có sự cạnh tranh công bằng giữa các ứng viên sở hữu tấm bằng cử nhân luật từ các trường khác nhau.
Một điểm đáng lưu ý là các chức danh tư pháp nêu trên thuộc nhóm vị trí việc làm nâng cao (nhóm nghề nghiệp sau khi đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề hay được bổ nhiệm), tức là thấp hơn nó, có rất nhiều nhóm vị trí việc làm khác, với nhiều công việc khác nhau. Cử nhân luật có thể làm một nhân viên pháp lý bình thường hay thư ký lãnh đạo trong các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, cơ quan, tổ chức nói chung trong và ngoài nước; các vị trí chuyên viên pháp lý, thư ký nghiệp vụ, trợ lý trong các công ty luật, trong các tổ chức hoạt động bổ trợ pháp luật, hay trong các cơ quan như HĐND, UBND, sở, phòng ban các cấp; cao hơn nữa là làm phóng viên (pháp luật), làm công tác nghiên cứu trong các viện nghiên cứu, chuyên viên trong các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực tư pháp nói riêng và các cơ quan nhà nước khác nói chung.
Như vậy, ngành luật đặc thù vì đào tạo ra những chức danh đặc biệt, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ hay bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, nếu hiểu một cách sâu sắc thì một cử nhân luật chưa qua quá trình đào tạo chuyên sâu về đặc thù nghề nghiệp thì sẽ không thể được nhà nước công nhận các chức danh đặc biệt đó. Hay nói khác hơn: một cử nhân luật chưa thể là người "cầm cân nảy mực" nhưng một bác sĩ vừa mới vào nghề thì phải gánh vác ngay trọng trách "lương y như từ mẫu" trong quá trình kê đơn, bốc thuốc. Vì thế, đừng đánh đồng đặc thù của ngành y với ngành luật để rồi có những chủ trương giống nhau!
Siết đào tạo luật theo hướng nào?
Thay vì siết theo kiểu bắt đầu xây dựng định nghĩa về "trường đại học chuyên" với những quy định về độc quyền đào tạo, nhà nước cần nâng cao công tác kiểm tra, giám sát thực hiện những quy định hiện hành. Bộ Giáo dục và Đào tạo hãy triển khai thực hiện đúng tinh thần Quyết định 678/QĐ-BGDĐT ngày 14-3-2025 về chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực pháp luật trình độ đại học để giúp các cơ sở đào tạo tự nâng cao chất lượng đào tạo của mình, xã hội sẽ tự đào thải những trường không đạt chuẩn. Đảng và Nhà nước cần có chủ trương xây dựng và phát triển những cơ sở đào tạo luật (chuyên hoặc không chuyên) hiện có, không cho phép các trường đa ngành mở mới việc đào tạo luật. Đây chính là việc cần làm và cần được quan tâm trong thời gian tới.
Xã hội có nhiều người học luật: Đáng mừng!
Trong những ngày đầu nước nhà độc lập, khi trình độ dân trí còn thấp, việc "xóa mù chữ" (chống giặc dốt) được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt xếp sau nhiệm vụ chống giặc đói. Ngày nay, kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu đòi hỏi các quốc gia phải có chủ trương giúp công dân của mình "xóa mù công nghệ" và "xóa mù luật". Trong đó, "mù công nghệ" có thể được xóa trong một thời gian ngắn nhưng "mù luật" chắc chắn phải cần một hành trình dài.
Những năm vừa qua, số lượng sinh viên ngành luật gia tăng đáng kể. Đó là lý do vì sao năm 1995, nhà nước chỉ cho phép có hai trường đại học được đào tạo luật mà đến năm 2025 (30 năm sau), cả nước có gần 100 cơ sở đào tạo luật. Có thể nói ngành luật là một trong những ngành tuyển sinh thành công nhất ở hầu hết các trường có mở ngành này. Điều đó cho thấy nhu cầu xã hội quá lớn và sự gia tăng cơ sở đào tạo luật là điều tất yếu. Đây là tín hiệu đáng mừng cho quốc gia, dân tộc, vì "Một nhà nước pháp quyền không thể thiếu những con người pháp quyền".
TS Trần Thị Mai Phước (Khoa Luật, Trường Đại học Mở TP HCM)