Tại cuộc họp triển khai thực hiện Nghị quyết 254/2025 của Quốc hội, Nghị quyết 87/2025 của HĐND TPHCM về bảng giá đất và công tác xây dựng hệ số K diễn ra hôm 26/1, ông Đào Quang Dương - Trưởng phòng Kinh tế đất, Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM cho biết, Luật Đất đai năm 2024 có 12 trường hợp áp dụng bảng giá đất.
Tuy nhiên, Nghị quyết 254/2025 của Quốc hội về tháo gỡ vướng mắc thi hành luật quy định chỉ có 5 trường hợp áp dụng bảng giá này, 7 trường hợp còn lại sẽ được xác định bằng phương thức bảng giá đất nhân với hệ số K.
Đến nay, bảng giá đất của TPHCM đã được HĐND TPHCM thông qua bằng Nghị quyết 87/2025 và đã có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Tuy nhiên do chưa có hệ số K, nên các trường hợp trên tạm thời vẫn áp dụng bảng giá đất theo Luật Đất đai 2024.
Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM đang phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng, sau khi được phê duyệt, dự kiến chậm nhất trước ngày 1/7 sẽ được ban hành.
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM cho biết, trong thời gian chưa có hệ số K, đối với 7 trường hợp phải có hệ số K, các địa phương tiếp tục tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền bồi thường về đất theo quy định của Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật Đất đai. Điều này không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân.
Dự kiến chậm nhất trước ngày 1/7, TPHCM mới ban hành hệ số K.
Theo bảng giá đất mới được HĐND TPHCM thông qua, giá đất ở tăng tại hầu hết khu vực so với bảng giá hiện hành của các địa phương trước sáp nhập nhưng biên độ tăng không đều. Các khu vực trung tâm cũ của TPHCM tăng nhẹ, trong khi các đô thị đang phát triển nhanh ở Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu tăng mạnh.
Tại khu vực TPHCM cũ, giá đất ở điều chỉnh với hệ số từ 1 đến 1,65 lần so với bảng giá ban hành năm 2024. Mức cao nhất khoảng 687 triệu đồng/m2 tại các tuyến đường trung tâm như Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, gần như không đổi so với bảng giá đang áp dụng. Mức giá thấp nhất khoảng 2,3 triệu đồng/m2 tại khu dân cư Thiềng Liềng.
Cụ thể, ngoại trừ một số tuyến đường cá biệt tăng tối đa 1,65 lần, các khu vực khác có xu hướng đi ngang hoặc tăng không đáng kể (khoảng 2%), có nơi giảm giá đất sản xuất để khuyến khích đầu tư.
Ở khu vực Bình Dương cũ ghi nhận mức tăng giá đất cao nhất trong 3 địa phương trước sáp nhập. Hệ số tăng giá đất ở tại đây dao động từ 1 đến hơn 8 lần so với bảng giá ban hành năm 2024.
Giá đất ở tại khu vực Bình Dương cũ cao nhất 89,6 triệu đồng/m2 (đường Bác Sĩ Yersin, đường Bạch Đằng). Giá thấp nhất là 1,3 triệu đồng/m2 (đường ĐH.722, đường Minh Tân - Long Hòa…).
Nơi có hệ số tăng cao nhất tại khu vực Bình Dương cũ tới hơn 8 lần là đường ĐH.505 đoạn từ Cầu Lễ Trang đến ĐH.507 với giá đất là 6,3 triệu đồng/m2, bảng giá đất trước sáp nhập là 780.000 đồng/m2. Đất thương mại, dịch vụ trên cùng tuyến tăng khoảng 4 lần, còn đất sản xuất kinh doanh tăng gần 3,8 lần.
Với khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, giá đất ở cũng được điều chỉnh tăng mạnh, với hệ số từ 1,7 đến hơn 4 lần, song mức tăng thấp hơn Bình Dương cũ.
Theo đó, giá đất ở cao nhất tại khu vực này đạt 149,48 triệu đồng/m2, áp dụng cho các tuyến đường ven biển trung tâm Vũng Tàu, trong đó nổi bật là đường Thùy Vân. Đây là trục du lịch - dịch vụ trọng điểm, tập trung dày đặc khách sạn, khu nghỉ dưỡng và hoạt động kinh doanh thương mại.
Giá đất ở thấp nhất tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ dao động từ vài triệu đồng mỗi m2, chủ yếu thuộc các xã vùng xa, khu vực nông thôn hoặc các tuyến đường có hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn chỉnh. Mức giá này thấp hơn đáng kể so với trung tâm Vũng Tàu và cũng thấp hơn nhiều khu vực đô thị của Bình Dương cũ.
Duy Quang