Ngày 13/2/2026, Bộ Y tế ban hành quyết định về việc công bố tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah (NiV)”, áp dụng thống nhất tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nhân viên y tế làm việc tại khu vực cách ly trong bệnh viện ở Kochi, Ấn Độ. (Ảnh: TTXVN)
Theo tài liệu hướng dẫn, bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, lây truyền từ động vật sang người và có khả năng lây từ người sang người. Virus Nipah được phát hiện lần đầu vào năm 1998 tại Malaysia. Từ đó đến nay, nhiều đợt bùng phát rải rác đã được ghi nhận tại Bangladesh, Ấn Độ, Singapore và Philippines. Bệnh có biểu hiện lâm sàng nặng, thường gây viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong dao động từ 40% đến 75%, nhiều trường hợp để lại di chứng thần kinh nghiêm trọng.
Virus Nipah được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A, có nguy cơ gây dịch lớn và nằm trong danh mục ưu tiên nghiên cứu, giám sát của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Về đặc điểm dịch tễ học, virus Nipah là virus RNA sợi đơn thuộc họ Paramyxoviridae, phân họ Orthoparamyxovirinae, chi Henipavirus. Vật chủ tự nhiên được xác định là dơi ăn quả thuộc chi Pteropus. Dơi mang virus nhưng không biểu hiện triệu chứng. Vật chủ trung gian có thể là lợn, từng ghi nhận trong đợt dịch tại Malaysia, và đôi khi là ngựa hoặc một số gia súc như dê, cừu, chó.
Hiện ghi nhận hai dòng virus chính. Dòng NiV-Malaysia chủ yếu lây từ động vật sang người, khả năng lây từ người sang người thấp. Trong khi đó, dòng NiV-Bangladesh và NiV-India có độc lực cao hơn, khả năng lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc với dịch tiết cao hơn đáng kể.
Đường lây truyền gồm tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất tiết của chúng như nước tiểu, nước bọt; sử dụng thực phẩm nhiễm chất bài tiết của dơi, điển hình là nhựa cây chà là hoặc trái cây bị nhiễm bẩn; và lây từ người sang người qua dịch tiết hô hấp, nước tiểu, chất nôn. Virus có thể lây qua giọt bắn khi người bệnh ho, hắt hơi. Các trường hợp có triệu chứng hô hấp được đánh giá có nguy cơ lây truyền cao hơn so với trường hợp chỉ biểu hiện viêm não.
Thời gian ủ bệnh trung bình từ 3 đến 14 ngày, hiếm gặp có thể kéo dài tới 45 ngày. Bệnh khởi phát đột ngột với sốt cao, đau đầu dữ dội, đau cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện các dấu hiệu thần kinh như chóng mặt, lú lẫn, mất định hướng, giảm ý thức và tiến triển nhanh sang hôn mê trong vòng 24-48 giờ. Ngoài ra có thể gặp co giật, yếu liệt chi, liệt vận nhãn.
Bệnh cũng gây tổn thương hô hấp như ho, khó thở, suy hô hấp tiến triển nhanh. Trường hợp nặng có thể dẫn đến suy đa tạng, suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa và nhiễm trùng huyết. Khoảng 20% người sống sót để lại di chứng thần kinh kéo dài như mệt mỏi, thay đổi tính cách, trầm cảm hoặc dấu hiệu thần kinh khu trú; một số có thể tái phát viêm não sau nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Về chẩn đoán, Bộ Y tế yêu cầu thực hiện đúng quy định lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm. Các xét nghiệm bao gồm phát hiện RNA virus bằng kỹ thuật Real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen; bệnh phẩm có thể là dịch tiết hô hấp, nước tiểu, máu, dịch não tủy. Xét nghiệm ELISA được sử dụng phát hiện kháng thể trong máu hoặc dịch não tủy.
Ca nghi ngờ là trường hợp có yếu tố dịch tễ (trở về từ vùng dịch hoặc tiếp xúc với ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày) kèm triệu chứng lâm sàng phù hợp hoặc có xét nghiệm huyết thanh học dương tính. Ca xác định phải có bằng chứng phát hiện RNA virus Nipah.
Nguyên tắc điều trị được xác định là cách ly nghiêm ngặt và kiểm soát nhiễm khuẩn. Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị chủ yếu là hỗ trợ tích cực và điều trị triệu chứng. Tất cả ca nghi ngờ hoặc xác định phải nhập viện và cách ly tại khu vực chuyên biệt; không cho phép người không có nhiệm vụ vào thăm.
Trong điều trị triệu chứng, sử dụng paracetamol hạ sốt; chống chỉ định thuốc NSAID do nguy cơ chảy máu hoặc hội chứng Reye. Người bệnh được hỗ trợ hô hấp tùy mức độ; kiểm soát co giật; xử trí tăng áp lực nội sọ; đặt nội khí quản và thở máy khi cần. Kháng sinh chỉ dùng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Duy trì cân bằng dịch, điện giải bằng đường uống hoặc truyền tĩnh mạch.
Hiện, chưa có vaccine phòng bệnh do virus Nipah. Các thuốc kháng virus vẫn đang trong quá trình nghiên cứu và chưa có khuyến cáo sử dụng chính thức. Công tác phòng bệnh chủ yếu dựa vào kiểm soát nguồn lây và tuân thủ các biện pháp phòng, chống theo quy định của Bộ Y tế.
Minh Tâm