Chuyện cụ Huỳnh tưởng niệm cụ Phan

Chuyện cụ Huỳnh tưởng niệm cụ Phan
5 giờ trướcBài gốc
Lễ tang chí sĩ Phan Châu Trinh năm 1926. Ảnh: Tư liệu
“Anh hùng dẫu mất hồn chưa mất”
Trên Báo Tiếng Dân số 64 ra ngày 24/3/1928, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng có bài thơ Khóc cụ Tây Hồ. Bài thơ diễn tả lại rất sinh động không khí bi hùng của đám tang vĩ đại tròn 2 năm trước (mà sau này nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn mệnh danh là một “Big Bang của lòng yêu nước”): “Còn nhớ năm xưa ngày bữa nay,/ Trời Nam bát ngát bóng sao bay./ Một đoàn con đỏ rầu không mẹ,/ Mấy kẻ đầu xanh khóc mất thầy./ Giọt lệ cảm tình mưa chửa tạnh,/ Hòn bia kỷ niệm đá vừa xây./ Anh hùng dẫu mất hồn chưa mất,/ Nối gót kìa ai kẻ thứ hai?”.
Cũng trên số báo ấy, cụ Huỳnh có bài ca trù Ngày kỵ cụ Tây Hồ, nhắc lại công lao to lớn và sự nghiệp vẻ vang của chí sĩ Phan Châu Trinh: “Trải biết bao tân khổ gian nan,/ Đem chân lý mà mở mang phường hậu giác/…/ Khi vào Nam, khi ra Bắc, khi Đông độ, khi Tây du,/ Tuôn máu nóng một bầu chan rưới khắp” và khẳng định: “Ái quốc nhứt thanh thiên diệc khấp” (Lòng ái quốc của cụ trời cũng phải khóc).
Sáu năm sau, trong bài “Ngày kỷ niệm cụ Phan Châu Trinh (24/3/1934)” đăng trên báo Tiếng Dân số 676 ngày 24/3/1934, từ câu chuyện ra đi của một vĩ nhân, Huỳnh Thúc Kháng khéo léo khêu gợi lòng yêu nước thương nòi trong mỗi con dân đất Việt, khi nước nhà vẫn còn đắm chìm trong vòng nô lệ: “Vĩ nhân đã ra người thiên cổ,/ Tấm bia sờ sờ rêu muốn phủ./ Kìa ai là người nóng lòng năm xưa,/ Ngày nay sụt xuống đến mấy độ?/ Đáng khóc hay đáng cười?/ Xin hỏi người dưới mộ!”.
Báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Ảnh: Tư liệu
“Tánh cách có chỗ khác người” của cụ Phan
Không chỉ ca ngợi thân thế và sự nghiệp cách mạng, trong các bài viết trên Báo Tiếng Dân nhân kỷ niệm ngày mất của Phan Châu Trinh, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng còn giúp độc giả “nhìn thấy cái tánh cách có chỗ khác người” của cụ Phan.
Trong các số 1185 và 1186 ra ngày 24/3 và 26/3/1938, Báo Tiếng Dân đăng bài “Vài chuyện dật sự của cụ Tây Hồ thuộc về tánh cách” của cụ Huỳnh, trong đó nêu lên những nét độc đáo của Phan Châu Trinh, đó là: “Đọc sách có não riêng”; “Làm văn không cần điển”; “Xem người có con mắt tinh”; “Tự trị dõng quyết”; “Biệt tài lanh lẹ”.
Chẳng hạn, cụ Huỳnh cho hay cụ Phan “từ làm quan đến tửu sắc, cờ bạc và các món chơi không có cái gì không trải qua, mà đến khi đoạn tuyệt là một lưỡi dao cắt đứt; gò ngay cương ngựa trước bậc hẵm. Làm quan mấy năm, kẻ khác đã nếm cái mùi đó, thường bị lôi kéo luôn trọn đời; nhưng cụ thôi một cái chảnh hoảnh, như anh đồ quê… Cụ thường nhại ông nghè Bất Nhị (tức Trần Quý Cáp) và tôi (tức Huỳnh Thúc Kháng): “Các anh chưa làm quan mà nói không thích quan, chưa vào trường tình mà nói không mê sắc, chưa uống rượu đánh bạc mà nói không ghiền, lại đứng xa mà tránh. Cái đó không chắc. Biết đâu bước chưn vào trong ấy lại say mê quá kẻ khác đến kéo cũng không ra. Như tôi, cái gì cũng vào tận nơi mà ra như không, cái đó mới hẳn là không mê”.
Một năm sau, cũng nhân kỷ niệm ngày mất của cụ Phan, vị Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Báo Tiếng Dân có bài viết “Một vài đặc kiến của cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh”, cuối bài không quên nhắc nhở độc giả: “Kể qua mấy điều thấy chỗ đặc kiến và đặc tánh của nhà chí sĩ tiên thời là thế nào; có đâu thấy vui thì hùa theo, thấy khó thì tránh xa, tự mình không có chủ kiến gì, xoay như chong chóng mà phô rầm những tiếng “thương nòi”, “cứu nước” như những lớp người mà chúng ta thường thấy”.
Đáng chú ý là trên Báo Tiếng Dân từ số 1106 (9/9/1937) đến số 1196 (19/4/1938) đã đăng tải “Thi tù tùng thoại” với 86 kỳ; đến tháng 10/1939 được nhà in Tiếng Dân xuất bản thành sách dày 286 trang, khổ 13x19 cm. Trong tác phẩm nổi tiếng này, tác giả Huỳnh Thúc Kháng đã kể lại khá chi tiết và sinh động những câu chuyện khá lý thú về Phan Châu Trinh trong quãng đời 3 năm ở “trường học thiên nhiên” - nhà tù Côn Lôn (tức Côn Đảo).
Theo đó, lần đầu tiên độc giả được cung cấp thông tin quan trọng: Cụ Phan là quốc sự phạm (tức tù chính trị) đầu tiên bị đày ra Côn Lôn (trước đó, nơi đây chỉ có tù thường phạm): “... Quốc sự phạm đày ra đây, cụ Phan Châu Trinh là người đầu tiên”.
Mặc dù được thực dân Pháp “biệt đãi” hòng lung lạc nhưng trước sau cụ Phan vẫn giữ vững chí khí cao cả của nhà đại ái quốc. “Thi tù tùng thoại” ghi lại bài thơ “Đập đá” nổi tiếng của cụ Phan, từng được truyền tụng sâu rộng ở Côn Lôn, trở thành “tuyên ngôn” của những người tù chính trị yêu nước đất Việt đầu thế kỷ 20.
Cũng theo sách đã dẫn của cụ Huỳnh Thúc Kháng, ba năm ở Côn Lôn, Phan Châu Trinh rất giàu tình đồng chí. Hay tin cụ Huỳnh và các “tù quốc sự” bị đày ra đảo, đang ở ngoài làng An Hải, cụ đã lật đật đi hỏi dò cho biết tên từng người.
Khi nhóm tù vào khám độ 3 giờ chiều thì nơi cửa sổ nhỏ lưới sắt có người ở ngoài ném vào một viên gạch cùng mảnh giấy văng theo. Giở ra xem thì ra chính thư cụ Phan do tự tay cụ viết và nhờ anh em tù làm bếp đưa vào. Bức thư có đoạn: “Thoạt nghe tin anh em ra đây, dậm chưn van trời một tiếng! Đoạn, tự nghĩ anh em vì quốc dân mà hy sanh đến phải ra đây, chắc là có trăm điều vui mà không có chút gì buồn, đây là trường học thiên nhiên, mùi cay đắng trong ấy, làm trai giữa thế kỷ 20 này, không thể không nếm cho biết”.
VÂN TRÌNH
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/chuyen-cu-huynh-tuong-niem-cu-phan-3328084.html