(Ảnh minh họa)
Họ là công nhân, sinh viên, kỹ sư trẻ, nhân viên văn phòng, giáo viên mới ra trường, những gia đình trẻ đang chắt chiu từng đồng để nuôi con và gây dựng tương lai. Họ làm việc mỗi ngày để tạo nên sức sống cho thành phố, nhưng cứ loay hoay mãi, cứ canh cánh bên lòng câu hỏi, bao giờ mới có một chỗ ở thuộc quyền sở hữu của mình?
Theo ước tính của Hà Nội, có tới gần 2 triệu người đang sinh sống trong các khu nhà thuê, tương đương khoảng một phần tư dân số Thủ đô. Nếu tính thêm TP Hồ Chí Minh và các đô thị công nghiệp lớn, con số này còn lớn hơn rất nhiều. Điều đó cho thấy một thực tế, bên trong những đô thị hiện đại đang tồn tại một “thành phố thuê trọ” khổng lồ. Thật là ngột ngạt.
Nghịch lý nằm ở chỗ, trong khi số người đi thuê nhà ngày càng đông thì những tòa nhà, khu đô thị mới vẫn mọc lên san sát. Nhìn từ trên cao, các đô thị lớn chưa bao giờ có nhiều nhà như hiện nay. Những dãy chung cư nối tiếp nhau kéo dài, những khu đô thị hàng trăm héc-ta liên tục được mở rộng. Thế nhưng giấc mơ an cư của phần đông người lao động dường như vẫn ngày một xa hơn.
Theo ý kiến của các chuyên gia, nước ta không hẳn thiếu nhà ở, mà đang thiếu khả năng tiếp cận nhà ở. Khi một căn hộ phổ biến tại Hà Nội có giá từ 7-8 tỷ đồng, thậm chí cao hơn, trong khi thu nhập của nhiều người lao động chỉ ở mức hơn chục triệu đồng mỗi tháng, khoảng cách giữa giá nhà và thu nhập một trời một vực. Những người trẻ vẫn phải mang theo nỗi băn khoăn, liệu làm việc cả đời, chắt chiu cả đời có đủ để mua một căn nhà?
Vì lẽ đó, việc Đảng và Nhà nước đặt vấn đề phát triển mạnh nhà ở cho thuê không đơn thuần là một giải pháp cho thị trường bất động sản, mà có thể xem là sự chuyển đổi quan trọng về tư duy phát triển. Từ mục tiêu “ai cũng sở hữu nhà ở” sang mục tiêu “ai cũng có chỗ ở ổn định”, điều mà cha ông ta nói “an cư lạc nghiệp”. Nói một cách giản dị, điều người dân cần trước tiên không phải là một cuốn “sổ đỏ” mà là một mái nhà. Một nơi có thể an tâm trở về sau giờ làm việc. Một nơi con cái được học hành ổn định. Một nơi gia đình có thể gắn bó lâu dài mà không phải nơm nớp lo lắng chuyện tăng giá thuê, rồi phải chuyển chỗ ở như cơm bữa.
Ai cũng dễ nhận thấy, lâu nay chúng ta đã quen nhìn nhà ở chủ yếu dưới góc độ sở hữu. Mua được nhà trở thành một cột mốc thành công của đời người. Không ít người trẻ bước vào tuổi lao động với mục tiêu lớn nhất là tích lũy để mua nhà, mong đến một ngày huy hoàng mời bè bạn đến “tân gia”. Tuy nhiên, khi tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, quy mô dân số các thành phố ngày càng lớn, tư duy ấy đang đứng trước những thách thức mới. Hà Nội hiện có khoảng 8,5 triệu dân và được quy hoạch hướng tới quy mô 15-16 triệu dân trong tương lai. Điều đó đồng nghĩa thành phố sẽ phải tiếp nhận thêm hàng triệu cư dân mới chỉ trong một vài thập niên tới. Làm sao đây để hàng triệu người có thể sống được trong thành phố?
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia phát triển đã lựa chọn cách tiếp cận khác.
Tại Đức, một trong những nền kinh tế hàng đầu châu Âu, tỉ lệ người thuê nhà thuộc nhóm cao nhất thế giới. Nhiều gia đình trung lưu vẫn thuê nhà trong suốt cuộc đời. Họ không bị áp lực phải vay nợ hàng chục năm để sở hữu bất động sản bởi hệ thống pháp luật bảo vệ rất tốt quyền lợi của người thuê. Hợp đồng thuê dài hạn, giá thuê được kiểm soát, chủ nhà không thể tùy tiện chấm dứt hợp đồng. Người thuê vẫn được hưởng đầy đủ các quyền lợi xã hội như người sở hữu nhà.
Nhật Bản có cung nhà ở dồi dào, thị trường minh bạch và liên tục được bổ sung khiến việc thuê nhà trở thành lựa chọn bình thường của người trẻ. Trong khi đó, Singapore từ nhiều thập niên trước đã xác định nhà ở là một bộ phận của chính sách an sinh quốc gia. Nhà nước chủ động chuẩn bị quỹ đất, phát triển nhà ở quy mô lớn và đồng bộ với trường học, bệnh viện, giao thông công cộng. Mục tiêu của họ không phải chỉ là xây nhà, mà là xây dựng cộng đồng dân cư. Ngay cả Trung Quốc, quốc gia có số dân hơn 1,4 tỉ người, sau giai đoạn giá nhà tăng nóng, cũng đang chuyển hướng mạnh mẽ sang phát triển nhà cho thuê và nhà ở bảo đảm. Khẩu hiệu nổi tiếng “Nhà ở là để ở, không phải để đầu cơ” phản ánh rõ sự thay đổi đó.
Trông người lại ngẫm đến ta. Điều Việt Nam cần không phải là từ bỏ mục tiêu giúp người dân sở hữu nhà, mà là bổ sung thêm một lựa chọn phát triển bền vững, cần một thị trường nhà cho thuê chuyên nghiệp.
Hiện nay, phần lớn nhà cho thuê ở ta vẫn do các hộ gia đình nhỏ lẻ cung cấp. Đúng là “trăm hoa đua nở”, nhưng khó có thể đáp ứng yêu cầu của một đô thị hàng chục triệu dân. Đã đến lúc cần có những doanh nghiệp chuyên đầu tư và vận hành nhà ở cho thuê quy mô lớn; những khu căn hộ được quản lý bài bản; những hợp đồng lâu dài bảo vệ quyền lợi của người thuê; những chính sách tín dụng và thuế đủ hấp dẫn để dòng vốn tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào lĩnh vực này.
Tuy nhiên, bài toán nhà ở sẽ không thể giải quyết nếu chỉ chăm chăm “bê tông hóa đô thị”. Thành phố chả khác nào một cơ thể mà lá phổi ngày càng nhỏ lại. Kinh nghiệm của Singapore và nhiều quốc gia khác cho thấy nhà ở phải đi cùng hạ tầng. Một khu nhà ở muốn trở thành nơi đáng sống phải có trường học, bệnh viện, công viên, cây xanh, phương tiện giao thông công cộng và cơ hội việc làm. Nếu mỗi ngày người lao động phải mất vài giờ di chuyển từ nơi ở tới nơi làm việc thì chi phí xã hội sẽ vô cùng lớn.
Cuối cùng, điều đáng chú ý nhất trong câu chuyện phát triển nhà cho thuê không nằm ở bất động sản mà nằm ở con người. Một thành phố hiện đại không được đo bằng số lượng chung cư cao tầng hay giá đất đắt đỏ đến đâu. Giá trị của một đô thị văn minh nằm ở khả năng giúp những con người bình thường có thể sống, làm việc và nuôi dưỡng tương lai của mình ở đó. Điều quan trọng nhất không phải là ai đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, mà là “không ai bị bỏ lại phía sau” trong hành trình tìm kiếm một mái nhà yên ấm.
Hải Đường