Khách du lịch quốc tế bùng nổ tại một số điểm đến. Ảnh: MINH ĐƯỜNG
Chuyển trục tăng trưởng
Đặt trong bối cảnh 9 ngày nghỉ, thời tiết thuận lợi và tâm lý tiêu dùng đã trở lại quỹ đạo ổn định, 14 triệu lượt khách ngoài phản ánh sức mua, còn phản ánh một cấu trúc thị trường đang định hình lại. Đây không còn là “cao điểm sau phục hồi”, mà còn là cao điểm của một chu kỳ tăng trưởng mới.
Công suất phòng bình quân cả nước đạt 55-60%, nhiều điểm đến chạm ngưỡng 80-95%, thậm chí 100%. Lượng khách quốc tế tăng mạnh tại Đà Nẵng (+32%), Huế (+207%), Hà Nội (+55%), TP.HCM (+51,7%).
Điều đáng chú ý tại một số điểm, khách quốc tế gần tương đương khách nội địa. Cấu trúc thị trường đang dịch chuyển. Tết vốn là “lãnh địa” của du lịch nội địa nay đã trở thành mùa cao điểm quốc tế. Đây là hệ quả cộng hưởng của ba yếu tố: Chính sách thị thực mở rộng và linh hoạt hơn, chất lượng sản phẩm cải thiện rõ nét, truyền thông số và nền tảng OTA phát huy hiệu ứng toàn cầu. Nhưng điểm quan trọng nhất nằm ở một chỉ báo kinh tế: Tổng thu tăng nhanh hơn lượng khách.
Trong phân tích ngành, đây là dấu hiệu chuyển từ “du lịch số lượng” sang “du lịch giá trị”. Thời gian lưu trú dài hơn. Phân khúc cao cấp tiêu thụ mạnh hơn. Trải nghiệm có kịch bản, có câu chuyện thay thế tour tham quan ngắn ngày. Tết Bính Ngọ 2026 vì thế có thể xem là mùa cao điểm đầu tiên mà du lịch Việt Nam đạt đồng thời bốn điều kiện: Cầu thị trường mạnh, sản phẩm mới xuất hiện rõ nét, hạ tầng vận hành ổn định ở quy mô lớn, doanh thu tăng theo chiều sâu. Rất ít mùa cao điểm nào hội tụ đủ bốn yếu tố này.
Du lịch văn hóa có kịch bản lên ngôi trong mùa du lịch Tết vừa qua. Chuỗi “Happy Tết 2026” tại Hà Nội, Đường hoa Nguyễn Huệ ở TP.HCM, không gian Tết cổ truyền Đà Nẵng, Đại lộ hoa - ánh sáng ven vịnh Quảng Ninh… cho thấy một chuyển động rõ rệt khi sản phẩm Tết không còn là không gian trang trí, mà là trải nghiệm được thiết kế. Du khách tìm đến câu chuyện. Họ muốn bước vào không gian văn hóa có chiều sâu, chứ không chỉ chụp ảnh và rời đi. Xu hướng này mở ra hướng phát triển bền vững nhất cho du lịch Việt Nam là khai thác tài nguyên văn hóa bằng tư duy công nghiệp sáng tạo.
Bên cạnh đó, điểm đến quốc tế thực thụ hình thành. Một số đô thị như Đà Nẵng, Huế, Hà Nội đang tiến gần mô hình “city break quốc tế” khi khách nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn. Đây là dấu hiệu của quá trình tái định vị từ “điểm nghỉ dưỡng nội địa” sang “điểm đến toàn cầu”. Các chuyên gia du lịch đánh giá, nếu tiếp tục đầu tư vào sản phẩm đêm, bảo tàng tương tác, trình diễn nghệ thuật, ẩm thực cao cấp, các đô thị này có thể nâng hệ số chi tiêu/ khách lên gấp đôi trong 5-7 năm tới.
Tuy nhiên, mùa du lịch Tết Bính Ngọ cũng bộc lộ những hạn chế như hạ tầng chịu tải tốt nhưng chưa thông minh. Để đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch Tết có 906 chuyến tàu Bắc - Nam, hàng trăm nghìn ghế bay bổ sung, nhiều sân bay vận hành ở mức kỷ lục. Về cơ bản, hệ thống vận tải đã chịu tải thành công.
Thế nhưng, hiện tượng quá tải cục bộ tại Tràng An, Đồng Văn, chùa Hương, Yên Tử; giá vé máy bay tăng do lệch đầu; ùn ứ giao thông đầu và cuối kỳ nghỉ cho thấy bài toán điều tiết dòng khách vẫn chưa được giải quyết bằng công cụ công nghệ. Quản trị điểm đến vẫn thiên về phản ứng, chưa đủ năng lực dự báo và phân luồng chủ động.
Những việc phải làm ngay
Nếu coi Tết Bính Ngọ 2026 là “mùa xuân bản lề”, thì giai đoạn 2026-2030 sẽ quyết định du lịch Việt Nam đứng ở đâu trên bản đồ khu vực. Chuyển từ “đón khách” sang “quản trị hệ sinh thái du lịch”, phát triển nhanh mà thiếu điều tiết sẽ dẫn đến bào mòn tài nguyên. Vì thế, ngành Du lịch cần đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu lớn để dự báo dòng khách theo thời gian thực, áp dụng cơ chế đặt vé khung giờ tại điểm quá tải, xây dựng trung tâm điều phối du lịch cấp vùng. Du lịch không thể tăng trưởng bền vững nếu chỉ dựa vào nỗ lực từng địa phương riêng lẻ.
Mục tiêu 25 triệu khách quốc tế và 150 triệu khách nội địa năm 2026 được đặt ra không phải quá cao, nhưng bài toán không nằm ở “bao nhiêu người đến”, mà ở “mỗi người chi bao nhiêu và ở lại bao lâu”. Ngành Du lịch cần tập trung vào thị trường chi tiêu cao; phát triển mạnh du lịch chăm sóc sức khỏe, golf, MICE, nghỉ dưỡng cao cấp; chuẩn hóa chuỗi cung ứng dịch vụ 4-5 sao. Khi giá trị gia tăng/khách tăng 20-30%, áp lực môi trường sẽ giảm đáng kể so với việc tăng 20-30% lượng khách.
Bên cạnh đó, tăng trưởng nhanh nếu không đi cùng tiêu chuẩn xanh sẽ khiến Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh nên cần chuẩn hóa tiêu chí khách sạn xanh, khuyến khích doanh nghiệp giảm phát thải, phát triển sản phẩm gắn với bảo tồn văn hóa và sinh thái.
Đặc biệt là cần hoàn thiện thể chế và quy hoạch liên vùng. Quy hoạch hệ thống du lịch quốc gia 2021-2030 cần được điều chỉnh đồng bộ với quy hoạch đô thị, hạ tầng, sắp xếp đơn vị hành chính. Không gian phát triển mới phải mở theo trục vùng, không theo ranh giới hành chính. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi một cụm liên vùng được quy hoạch như một chỉnh thể, thời gian lưu trú có thể tăng thêm 1,5-2 ngày.
Du lịch Việt Nam đang ở một thời điểm đặc biệt đó là niềm tin thị trường trở lại, hạ tầng dần hoàn thiện, chính sách mở cửa thuận lợi, hình ảnh quốc gia được cải thiện. Nhưng lợi thế này có tính chu kỳ. Cạnh tranh khu vực đang rất khốc liệt. Thái Lan, Indonesia, Malaysia đều đặt mục tiêu cao hơn Việt Nam về chi tiêu/khách. Nếu không chuyển từ tư duy “phục hồi” sang “cạnh tranh và kiến tạo giá trị”, đà tăng hiện nay sẽ chững lại trong vài năm tới.
Tết Bính Ngọ là dấu mốc của một giai đoạn mới. 14 triệu lượt khách không chỉ là thành tích mùa vụ. Đó là tín hiệu của một nền cầu nội địa đã trưởng thành, của thị trường quốc tế đang mở rộng, của hệ thống vận hành đã nâng cấp. Nhưng đây mới chỉ là bước khởi động. Tăng trưởng nhanh là điều kiện cần. Tăng trưởng bền vững mới là điều kiện đủ.
Nếu giải quyết được bài toán quản trị điểm đến, tái cấu trúc thị trường theo giá trị và đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, du lịch Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào chu kỳ phát triển cao hơn, không chỉ đông khách mỗi mùa xuân, mà tạo ra giá trị thực sự cho nền kinh tế và cho cả những vùng đất đang đặt niềm tin vào ngành “công nghiệp không khói”.
NGUYỄN ANH