“Vạn lý tương tư, vũ trụ tình”
Nữ sĩ Anh Thơ (tên thật là Vương Kiều Ân) quê ở Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Được giáo dục trong một gia đình lễ giáo phong kiến nghiêm ngặt, nhưng ngay từ nhỏ bà đã ham đọc, ham hiểu biết và thích làm thơ. Khi tiếp cận với phong trào thơ mới, tâm hồn người thiếu nữ đã rung động.
Nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) và nữ sĩ Anh Thơ (1918-2005).
Năm 1939, khi tập thơ đầu tay “Bức tranh quê” được giải Khuyến khích của Tự lực Văn đoàn thì tên tuổi bà mới được nhiều người biết đến. Nguyễn Bính lúc này đã là một nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ mang đậm tình quê, chân quê, được giải Khuyến khích thơ của Tự lực Văn đoàn trước Anh Thơ một năm. Vốn là nhà thơ lữ khách giang hồ, trước đó, ông đã trải qua nhiều mối tình nhưng đều kết thúc tan vỡ. Thấy một nàng thơ lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn đã nổi tiếng với những bài thơ tả cảnh quê, Nguyễn Bính rất ái mộ. Ông đã đăng trên Báo Thứ Bảy bài thơ “Vẩn vơ” tặng riêng “nàng thơ áo trắng sông Thương”. Ông còn gửi nhiều thư cho Anh Thơ, gọi bà là “công chúa của lòng anh” và ngỏ ý được nên duyên vợ chồng. Khỏi nói nữ sĩ Anh Thơ vui như thế nào. Đang khao khát yêu đương, muốn có người bạn đời cũng là thi sĩ thì được một nhà thơ nổi tiếng tỏ tình, bà rất xúc động. Ngày nhớ, đêm mong được gặp tri kỷ.
Chỉ tiếc, khi Nguyễn Bính lên Phủ Lạng Thương “ra mắt” Anh Thơ, nhìn dáng người thấp, cách ăn nói bụi bặm, cử chỉ lại có chút hơi suồng sã, nữ sĩ Anh Thơ đã “vỡ mộng” và cắt đứt luôn quan hệ. Sau lần gặp đó, Nguyễn Bính còn lên Bắc Giang nhiều lần, gửi thư, làm thơ tặng bà nhưng không thay đổi được tình thế. Trong di sản thơ ông, đến nay người đọc vẫn gặp bài “Bảy chữ”-viết ở Bắc Giang năm 1940, tặng Anh Thơ: “Tôi thảo lên trời mấy nét nhanh…/ Chiều nay nàng bắt được trời xanh/ Đọc xong bảy chữ thì thương lắm/ "Vạn lý tương tư, vũ trụ tình”.
Cùng chung nẻo đường kháng chiến
Tuy đường tình không chung lối nhưng nữ sĩ Anh Thơ và nhà thơ Nguyễn Bính lại cùng nhau chung bước trên nẻo đường kháng chiến. Đầu năm 1945, nữ sĩ Anh Thơ đi theo cách mạng. Từ cô gái khuê các, bà trở thành người cán bộ phụ vận kiên cường, đầy nghị lực. Bà từng giữ chức Bí thư Huyện hội Phụ nữ các huyện Việt Yên, Lục Ngạn, Hữu Lũng (Bắc Giang) và Bắc Sơn (Lạng Sơn). Ngòi bút thơ lãng mạn xưa mang thêm dấu ấn rắn rỏi, mặn mòi của hiện thực kháng chiến mà vẫn luôn ấm áp tình quê và trái tim nhân hậu của người phụ nữ. Tiêu biểu là các tác phẩm “Kể chuyện Vũ Lăng” (1948), “Tiếng chim tu hú” (1954). Trong hồi ký, nhà báo Vũ Mạnh - nguyên Tổng Biên tập Báo Hà Bắc, là bạn hoạt động kháng chiến của nữ sĩ Anh Thơ đã kể lại: Trung tuần tháng 8/1945, trước khi rời Yên Dũng (Bắc Giang) đi nhận nhiệm vụ mới, nữ sĩ Anh Thơ đã lưu luyến chia tay và tặng những người bạn kháng chiến ở Yên Dũng một bài thơ. Trong đó có những câu: “Một đi theo với sơn hà/ Một đi chiến sĩ tình nhà nhẹ không/ Dừng đây, riêng một tấm lòng/ Dừng đây, riêng với non sông ngậm ngùi/ Nhớ ai đồng chí bao người/ Rồi đây, đạn lửa, cuộc đời xông pha…”.
Năm 1945, nhà thơ Nguyễn Bính vào Nam và đi theo cách mạng. Năm 1947, ông tham gia Vệ quốc đoàn. Ông đã có mặt khắp các chiến trường Nam Bộ. Như hai trang sách cuộc đời. Đi theo kháng chiến Nam Bộ là một nhà thơ Nguyễn Bính với giọng thơ khỏe khoắn, hào sảng ca ngợi những chiến thắng của vệ quốc quân, khác hẳn một nhà thơ Nguyễn Bính chân quê đầy tâm trạng não nề ở miền Bắc năm xưa. Năm 1950, bài thơ “Cửu Long Giang” của ông được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc thành bài hát “Tiểu đoàn 307”, đã làm nức lòng quân và dân Nam bộ và vẫn đi cùng năm tháng đến bây giờ: “Buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy/ Cả Tiểu đoàn thề dưới sao vàng/ Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi…”. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác ở tòa soạn Báo Văn nghệ, làm chủ bút Báo “Trăm hoa”, sau chuyển về công tác ở Ty Văn hóa Nam Hà. Hồn thơ ông vẫn mãnh liệt, thiết tha viết phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Cùng mê đắm nàng xuân
Cho dù tính cách, hoàn cảnh sống, bút pháp thơ khác nhau nhưng cả Nguyễn Bính, Anh Thơ vẫn dành nhiều nhất những bài thơ viết về mùa xuân, hoặc sáng tác ở thời điểm Tết đến, xuân về. Người đọc đến nay cũng nhớ nhất những bài thơ của hai tác giả viết về mùa xuân. Thơ xuân của Nguyễn Bính phải kể đến các bài: “Thơ xuân”, “Gái xuân”, “Mưa xuân”, “Xuân về”, “Mùa xuân xanh”… Dù là thể thơ lục bát hay thơ thất ngôn, mùa xuân hiện lên trong thơ ông luôn sống động, tươi tắn sắc màu, đang độ non tơ xuân thì, biểu tượng cho sự trẻ trung, tươi mới và tràn đầy hy vọng. Trong sắc màu xuân ấy bao giờ cũng thấy hiện lên một khao khát, một tình quê chan chứa nỗi niềm. Như “Cô gái xuân mơ chuyện lấy chồng” trong “Gái xuân” hay nỗi thất vọng của cô gái trong đêm hội làng: “Chờ mãi anh sang, anh chẳng sang” trong “Mưa xuân”.
Tranh minh họa.
Không ồn ã, không đa sắc màu, làm “náo động tình xuân” như thơ Nguyễn Bính - mùa xuân hiện lên trong “Bức tranh quê” của nữ sĩ Anh Thơ lại được chấm phá bằng những nét tinh tế, nhẹ nhàng: “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” (Chiều xuân). Hoặc, dù có viết về “gái xuân” với khao khát yêu đương, thì cũng được nữ sĩ chấm phá bằng nét thơ rất kín đáo: “Trên những giải lưng điều bay phấp phới/ Các cô nàng lơ lẳng nón quai thao” (Chợ ngày xuân)…
Với bút pháp độc đáo, thấm đậm hồn quê, chân quê, cả hai thi sĩ đã khắc họa một mùa xuân rất riêng trong thơ mình để lại cho hậu thế. Cả hai người đều được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho các sáng tác văn học nghệ thuật. Hôm nay, giở đọc những bài thơ xuân của hai nhà thơ tuổi Ngọ tài hoa ấy, lòng ta lại thấy bâng khuâng: “Vạn lý tương tư, vũ trụ tình”.
Lê Huyền