Theo Quyết định số 840, Việt Nam đặt mục tiêu đạt 100.000 doanh nghiệp công nghệ số vào năm 2030 - Ảnh minh họa.
Quyết định số 840/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD. Doanh thu xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghệ số của các doanh nghiệp Việt Nam phấn đấu đạt ít nhất 55 tỷ USD mỗi năm. Đồng thời mục tiêu đạt 100.000 doanh nghiệp công nghệ số.
Tại Họp báo của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 1/6, ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, cho biết trong khuôn khổ thực thi chương trình, trọng tâm không phải xây dựng thêm nhiều cơ chế, chính sách mới. Thời gian qua, Bộ đã nỗ lực hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển khoa học, công nghệ và công nghiệp công nghệ số, với nhiều chính sách đột phá được ban hành thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các văn bản hướng dẫn liên quan.
Chương trình không phủ nhận vai trò của hoạt động gia công, lắp ráp trong quá trình phát triển ngành công nghiệp công nghệ số. Tuy nhiên, mục tiêu dài hạn là nâng vị thế của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển dịch từ các khâu có giá trị gia tăng thấp sang các khâu có giá trị cao hơn.
Ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ.
“Chương trình lần này chủ yếu đưa những cơ chế, chính sách đã được ban hành vào thực tiễn, tạo ra hiệu quả trong phát triển ngành công nghiệp công nghệ số”, ông Tú nhấn mạnh.
Vẫn theo ông Tú, chương trình được xây dựng trên tinh thần “Make in Vietnam”, không chỉ dừng lại ở mục tiêu sản xuất tại Việt Nam mà hướng tới cao hơn là sáng tạo tại Việt Nam, thiết kế tại Việt Nam và làm chủ tại Việt Nam.
Mục tiêu cuối cùng là từng bước làm chủ công nghệ, phát triển các sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Đáng chú ý, ông Tú khẳng định: "Chương trình không phủ nhận vai trò của hoạt động gia công, lắp ráp trong quá trình phát triển ngành công nghiệp công nghệ số. Tuy nhiên, mục tiêu dài hạn là nâng vị thế của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển dịch từ các khâu có giá trị gia tăng thấp sang các khâu có giá trị cao hơn như nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, xây dựng tiêu chuẩn, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số và xây dựng thương hiệu trên thị trường".
Ông Tú cho biết ba mục tiêu lớn của chương trình gồm phát triển lực lượng doanh nghiệp công nghệ số, gia tăng doanh thu ngành và hình thành các doanh nghiệp làm chủ công nghệ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Ông Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Việc phát triển số lượng doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô và hệ sinh thái công nghệ số; tăng doanh thu giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu; trong khi mục tiêu làm chủ công nghệ hướng tới nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển các sản phẩm trọng điểm, khai thác hiệu quả hạ tầng dùng chung và đáp ứng các tiêu chuẩn của những thị trường lớn.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, chương trình đề ra các nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết là thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Đặt ra các cơ chế hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; khuyến khích hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm, mô hình mới theo quy định của pháp luật, mở ra không gian để doanh nghiệp mạnh dạn thử nghiệm, sáng tạo và hoàn thiện công nghệ trong môi trường phù hợp.
Nhóm giải pháp thứ hai là tạo lập thị trường ban đầu và các bài toán thực tiễn cho doanh nghiệp. Theo ông Tú, muốn đầu tư dài hạn vào công nghệ lõi, doanh nghiệp cần có thị trường đủ lớn để kiểm chứng sản phẩm. Vì vậy, chương trình thúc đẩy các cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, mua sắm công đối với sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm theo quy định của pháp luật, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung - cầu và kích cầu thị trường công nghệ.
Nhóm giải pháp thứ ba tập trung phát triển năng lực thực chất cho doanh nghiệp. Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước và quốc tế, đồng thời xây dựng lực lượng doanh nghiệp công nghệ số chủ lực.
Cùng với đó, chương trình chú trọng phát triển các hạ tầng dùng chung phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và đo kiểm như khu công nghệ số tập trung, phòng thí nghiệm, trung tâm đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ số.
Ông Tú dẫn chứng việc Bộ Khoa học và Công nghệ vừa thành lập Trung tâm Hỗ trợ thiết kế và sản xuất chip bán dẫn, hiện là một trong những hạ tầng dùng chung phục vụ hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và đo kiểm trong lĩnh vực bán dẫn.
Nhóm giải pháp quan trọng khác là hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trọng tâm là giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong nước và quốc tế để tham gia chuỗi cung ứng, từ đó từng bước đảm nhận những vị trí có giá trị gia tăng cao hơn.
Bạch Dương