Cơ hội mở ra từ hơn 3.000km cao tốc

Cơ hội mở ra từ hơn 3.000km cao tốc
một ngày trướcBài gốc
Cao tốc nối thông từ Cao Bằng đến Cà Mau rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa các vùng miền, khơi dậy tiềm năng phát triển của nhiều vùng đất mới.
Tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử
Những ngày đầu năm 2026, ông Phạm Hồng Sơn (trú tại phường Bồ Đề, TP Hà Nội) chia sẻ niềm vui khi chuyến đi thăm người nhà ở Đồng Tháp thuận lợi hơn rất nhiều.
Việc hoàn thành hơn 3.000km cao tốc tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương nơi dự án đi qua. (Trong ảnh: Cao tốc Vũng Áng - Bùng nối 2 tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Trị).
"Có cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ, thời gian di chuyển từ Đồng Tháp về Cảng hàng không Cần Thơ chỉ còn khoảng 1 tiếng thay vì 1,5-2 tiếng như trước. Đường đẹp, tốc độ nhanh, chuyến đi vừa an toàn, vừa tiết kiệm thời gian hơn rất nhiều", ông Sơn nói.
Cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ chỉ là một trong nhiều "mảnh ghép" cao tốc được đầu tư tại Đồng bằng sông Cửu Long trong 5 năm trở lại đây.
Nếu trước năm 2020, cả khu vực này mới chỉ có khoảng 40km thuộc tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận thì đến nay, chiều dài đã tăng thêm hơn 220km thuộc các dự án như: Đoạn Mỹ Thuận - Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận 2, Cần Thơ - Hậu Giang, Hậu Giang - Cà Mau, Cao Lãnh - Lộ Tẻ, Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, cao tốc Bến Lức - Long Thành (qua tỉnh Long An cũ)…
Theo ông Nguyễn Thế Minh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), giai đoạn 2020-2025 là thời kỳ hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam phát triển nhanh nhất, đánh dấu bước đột phá mang tính lịch sử cả về quy mô đầu tư, tốc độ thi công, chiều dài đưa vào khai thác và hiệu quả đầu tư.
Trước đó, giai đoạn 2001-2010, cả nước mới đưa vào khai thác 89km đường cao tốc. Sang giai đoạn 2011-2020, nhờ Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, khoảng 1.074km đã được hoàn thành và đưa vào khai thác thêm, nâng tổng chiều dài cao tốc cả nước đến hết năm 2020 lên 1.163km.
Bước sang nhiệm kỳ 2021-2025, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về ba đột phá chiến lược, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành hàng loạt cơ chế đặc thù nhằm rút ngắn thủ tục đầu tư, chỉ định thầu, giao mỏ vật liệu trực tiếp cho nhà thầu, phân cấp mạnh cho địa phương làm cơ quan chủ quản. Hàng loạt dự án được khởi công, tạo nên làn sóng đầu tư mạnh mẽ chưa từng có.
Từ 1.163km ở năm 2020, chỉ trong vòng 5 năm, tính đến hết 2025, tổng chiều dài tuyến chính đường bộ cao tốc được hoàn thành, thông xe đạt 3.188km và đạt 3.513km (nếu tính cả chiều dài nút giao và đường dẫn). Đây là tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử ngành giao thông vận tải Việt Nam.
Hình thành trục liên kết cảng biển - sân bay - cửa khẩu
Theo Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Xây dựng), các tuyến cao tốc sau khi đưa vào khai thác đã mang lại hiệu quả rõ rệt về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Nghiên cứu cho thấy sau khi cao tốc đưa vào khai thác, thu ngân sách nội địa bình quân của các tỉnh đều tăng, trong đó bao gồm thu từ hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Một số tuyến cao tốc theo hành lang phát triển như: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đã rút ngắn thời gian từ Hà Nội đi Hạ Long còn khoảng 1,5 giờ, hình thành trục liên kết cảng biển - sân bay - cửa khẩu, thúc đẩy du lịch, logistics và công nghiệp ven biển.
Tuyến cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi góp phần giảm thời gian, nâng độ an toàn vận tải, hỗ trợ chuỗi cung ứng khu công nghiệp miền Trung.
Tuyến TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận rút ngắn thời gian di chuyển còn khoảng 1 giờ 45 phút, góp phần giảm chi phí vận chuyển nông - thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long. Tác động lan tỏa thể hiện ở gia tăng lưu lượng, giảm ùn tắc trên trục quốc lộ song hành và tăng hấp dẫn đầu tư tại các nút giao, khu công nghiệp.
Mở không gian phát triển mới
Khẳng định đầu tư cao tốc được thiết kế không chỉ nhằm kết nối mà còn mở ra không gian phát triển kinh tế. Hàng loạt địa phương có cao tốc đi qua ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân cao hơn so với cả nước.
Hoàn thành, thông xe 3.188km cao tốc
Trong tổng số 3.188km đường bộ cao tốc đã hoàn thành, thông xe (tính đến hết năm 2025), có 1.163km đưa vào khai thác trước năm 2020 thuộc 21 dự án, gồm: Láng - Hòa Lạc; Hòa Lạc - Hòa Bình; Hà Nội - Hải Phòng; Nội Bài - Lào Cai; Quảng Ninh - Hải Phòng; Hạ Long - Vân Đồn; Hà Nội - Thái Nguyên; Thái Nguyên - Chợ Mới; Đà Lạt - Liên Khương; Long Thành - Dầu Giây; Vành đai 3 TP Hà Nội (19km hoàn thành năm 2020); Nội Bài - Nhật Tân; Bắc Giang - Lạng Sơn; Hà Nội - Bắc Giang; Vành đai 3 (cầu Phù Đổng - Pháp Vân, dài 14km hoàn thành năm 2011); Pháp Vân - Cầu Giẽ; Cầu Giẽ - Ninh Bình; Đà Nẵng - Quảng Ngãi; Long Thành - Dầu Giây; TP.HCM - Trung Lương; La Sơn - Hòa Liên.
Có 858km đưa vào khai thác từ năm 2020-2024 thuộc 16 dự án/dự án thành phần, gồm: Trục Vân Đồn; Vân Đồn - Móng Cái; Cao Bồ - Mai Sơn; Trung Lương - Mỹ Thuận; Mai Sơn - QL45; QL45 - Nghi Sơn; Nghi Sơn - Diễn Châu; Cam Lộ - La Sơn; Nha Trang - Cam Lâm; Vĩnh Hảo - Phan Thiết; Phan Thiết - Dầu Giây; Cầu Mỹ Thuận 2; Mỹ Thuận - Cần Thơ; Tuyên Quang - Phú Thọ; Cam Lâm - Vĩnh Hảo; Diễn Châu - Bãi Vọt.
Có 1.167km hoàn thành/thông xe kỹ thuật trong năm 2025 thuộc 27 dự án/dự án thành phần, gồm: Bãi Vọt - Hàm Nghi; Hàm Nghi - Vũng Áng; Bùng - Vạn Ninh; Vũng Áng - Bùng; Vạn Ninh - Cam Lộ; Quảng Ngãi - Hoài Nhơn; Hoài Nhơn - Quy Nhơn; Quy Nhơn - Chí Thạnh; Chí Thạnh - Vân Phong; Vân Phong - Nha Trang; Cần Thơ - Hậu Giang; Hậu Giang - Cà Mau; Hòa Liên - Túy Loan; Cao Lãnh - Lộ Tẻ; Lộ Tẻ - Rạch Sỏi; Bến Lức - Long Thành; Biên Hòa - Vũng Tàu (dự án thành phần 1, 2, 3).
Cùng đó là các tuyến cao tốc: Tuyên Quang - Hà Giang (đoạn qua Hà Giang và đoạn qua Tuyên Quang); Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột (dự án thành phần 1 và dự án thành phần 3); Vành đai 3 TP.HCM (dự án thành phần 1, 3); Đồng Đăng - Trà Lĩnh; Hữu Nghị - Chi Lăng.
Ông Phạm Hữu Sơn, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI) dẫn chứng, giai đoạn 2011-2019 tốc độ tăng GRDP bình quân của Lào Cai là 10,23%/năm, Yên Bái 7,15%/năm, Phú Thọ 8,06%/năm, Hải Phòng 12,89%/năm, Quảng Ninh 9,91%/năm, Hải Dương 8,62%/năm, Tiền Giang 6,88%/năm, Long An 10,23%/năm..., trong khi tốc độ tăng GDP bình quân cả nước đạt khoảng 6.3%/năm.
Tính chung, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2011-2019 của cả nước khoảng 1,19%/năm, các tỉnh có đường cao tốc tăng trưởng khoảng 1,31%/năm.
Với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, việc kết nối các tuyến cao tốc như Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái không chỉ rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển. Đây còn là động lực hình thành tam giác kinh tế phía Bắc, thúc đẩy sự bùng nổ của chuỗi logistics tại Cảng Lạch Huyện và sự phát triển của ngành du lịch dịch vụ chất lượng cao tại Quảng Ninh. Việc phát triển hệ thống giao thông đồng bộ giúp nâng cấp hệ thống cảng biển hiện đại ngang tầm thế giới.
Tại khu vực phía Nam, việc kết nối các tuyến cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây với Cảng Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) giúp giảm chi phí vận tải container, tăng năng lực cạnh tranh quốc tế cho các cảng nước sâu.
Với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, các tuyến cao tốc như TP.HCM - Trung Lương, Trung Lương - Mỹ Thuận và Mỹ Thuận - Cần Thơ đã giải quyết tình trạng ùn tắc kéo dài, tăng tốc độ lưu thông hàng hóa nông sản và tạo điều kiện hình thành các khu đô thị vệ tinh, dịch vụ mới, khai thác hiệu quả quỹ đất dọc tuyến.
Việc đầu tư đường bộ cao tốc ngoài mang lại hiệu quả về vận tải, còn thúc đẩy phát triển du lịch, khơi dậy các tiềm năng sẵn có của các địa phương cho hoạt động du lịch.
Điển hình, tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đưa vào khai thác năm 2019, lượng khách du lịch của Hải Phòng tăng gấp 1,63 lần so với năm 2015 (từ 5,6 triệu lượt khách lên 9,1 triệu lượt khách).
Tuyến cao tốc Quảng Ninh - Hải Phòng đưa vào khai thác năm 2019, lượng khách du lịch của Quảng Ninh tăng gấp 1,8 lần năm 2015 (từ 7,8 triệu lượt khách lên 14 triệu lượt khách).
Tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai đưa vào khai thác năm 2019, lượng khách du lịch của Lào Cai tăng gấp 2,43 lần so với năm 2015 (từ 2,1 triệu lượt khách lên 5,11 triệu lượt khách).
Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa:
Xóa khoảng cách vùng miền, hút đầu tư
Việc hoàn thành mục tiêu hơn 3.000km đường cao tốc là một điểm nhấn chiến lược, thể hiện sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự quyết liệt trong tổ chức thực hiện của Chính phủ và sự giám sát sát sao của Quốc hội.
Việc hoàn thành và đưa vào sử dụng hàng loạt dự án cao tốc thời gian qua không chỉ vượt chỉ tiêu đề ra mà còn tạo tiền đề, cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ giúp giảm đáng kể chi phí logistics, rút ngắn thời gian di chuyển, tạo sức cạnh tranh để thu hút các nhà đầu tư. Khi hạ tầng giao thông đi trước một bước, sẽ đóng vai trò là đòn bẩy để phát triển đồng bộ hạ tầng khác như viễn thông, giáo dục và y tế…
Hiện nay, các địa phương đã chuẩn bị tâm thế chủ động và vững chắc để đón nhận cơ hội từ hạ tầng mang lại. Khi giao thông thuận tiện, các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, sẽ không chỉ tập trung vào các đô thị lớn như TP.HCM hay Bình Dương. Họ bắt đầu chuyển hướng về các tỉnh lân cận và miền Tây.
Bên cạnh hạ tầng giao thông tốt, các tỉnh này còn có lợi thế về quỹ đất và suất đầu tư thấp hơn. Điều này giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào mà vẫn đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, phân phối hàng hóa.
Đặc biệt, hiện nay, lãnh đạo nhiều tỉnh thành đã ý thức được khi hạ tầng đường bộ rộng mở, phát triển bất động sản không phải động lực phát triển lâu dài. Định hướng hiện nay là tập trung nguồn lực để phát triển các khu - cụm công nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện hạ tầng viễn thông và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục. Nhà nước sẽ tập trung vào các nền tảng kinh tế bền vững hơn để nâng tầm vị thế của địa phương.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa:
Trụ cột ổn định tăng trưởng
Việc hoàn thành hơn 3.000km cao tốc, cùng lúc đồng loạt khởi công hàng trăm dự án đầu tư trên phạm vi cả nước không chỉ là một dấu mốc về phát triển kết cấu hạ tầng, mà còn tạo ra xung lực kinh tế đa tầng, tác động sâu rộng tới tăng trưởng, củng cố nền tảng phát triển dài hạn.
Nó tác động trực tiếp và tức thì tới tăng trưởng kinh tế thông qua việc mở rộng tổng cầu. Hàng trăm dự án được khởi công đồng thời kéo theo nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng, máy móc, nhân công, dịch vụ tư vấn, vận tải và tài chính. Các ngành thép, xi măng, nhựa đường, cơ khí, logistics… được "kích hoạt" mạnh mẽ, tạo hiệu ứng lan tỏa theo chuỗi giá trị.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, xuất khẩu chịu áp lực, đầu tư công, đặc biệt là đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược trở thành trụ cột ổn định tăng trưởng. Mỗi đồng vốn đầu tư vào hạ tầng giao thông có thể tạo ra giá trị gia tăng gấp nhiều lần trong trung và dài hạn, thông qua việc nâng cao hiệu quả sản xuất - lưu thông - phân phối của toàn nền kinh tế.
Khi thời gian di chuyển giữa các trung tâm sản xuất, cảng biển, cửa khẩu và thị trường tiêu thụ được rút ngắn, doanh nghiệp có điều kiện tối ưu tồn kho, mở rộng quy mô, tăng tốc độ quay vòng vốn. Điều này đặc biệt quan trọng với các ngành xuất khẩu chủ lực, nông sản, công nghiệp chế biến, chế tạo và thương mại điện tử.
Về dài hạn, một mạng lưới cao tốc liên thông, đồng bộ Bắc - Nam và kết nối vùng sẽ là lợi thế cạnh tranh quốc gia, giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.
Hệ thống cao tốc không chỉ là những tuyến đường, mà là công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế. Khi các "điểm nghẽn" về giao thông được tháo gỡ, dòng vốn, lao động và công nghệ sẽ dịch chuyển mạnh hơn ra khỏi các đô thị lõi vốn đang quá tải, hướng tới các địa phương có quỹ đất, nhân lực và dư địa phát triển.
Nhiều địa phương trước đây bị "kẹt" vì hạ tầng yếu sẽ có cơ hội bứt phá, thu hút đầu tư vào công nghiệp, logistics, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao.
Cùng đó, việc khởi công hàng trăm dự án đầu tư, phân bổ hợp lý góp phần giảm chênh lệch phát triển, tăng tính liên kết vùng, hạn chế tình trạng phát triển cục bộ và manh mún - một tồn tại kéo dài trong nhiều năm.
Dưới góc độ xã hội - lao động, làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn sẽ tạo ra hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu việc làm, cả trực tiếp lẫn gián tiếp.
Riêng đối với bất động sản, hạ tầng giao thông luôn là yếu tố dẫn dắt sự phát triển của thị trường. Khi cao tốc hoàn thành, giá trị đất đai và bất động sản tại các khu vực có khả năng kết nối tốt sẽ được nâng lên.
Việc hoàn thành đúng tiến độ các mục tiêu lớn như 3.000km cao tốc và đồng loạt khởi công hàng trăm dự án còn mang ý nghĩa quan trọng về niềm tin thị trường. Nó cho thấy quyết tâm chính trị, năng lực tổ chức thực hiện và sự đồng bộ trong điều hành vĩ mô.
Trong dài hạn, đây chính là đầu tư cho tương lai, nơi hạ tầng đi trước một bước, mở đường cho cải cách thể chế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số và nâng cao chất lượng sống của người dân; đưa kinh tế Việt Nam bước sang một chu kỳ tăng trưởng mới, bền vững và có chiều sâu hơn.
Thu Trang - Đức Bình (ghi)
Nam Khánh
Nguồn Xây Dựng : https://baoxaydung.vn/co-hoi-mo-ra-tu-hon-3000km-cao-toc-192260107091850778.htm