Có một cách thưởng trà như thế

Có một cách thưởng trà như thế
2 giờ trướcBài gốc
Các nhà nghiên cứu và đại diện HTX chè trao đổi về văn hóa trà. Ảnh: T.L
Chén trà mở đầu câu chuyện
Không sinh ra ở Thái Nguyên, địa danh được coi là “đệ nhất danh trà” nhưng tôi lớn lên trên mảnh đất này cùng cây chè, gắn bó với trà Thái. Tôi đã tự tay nhặt những hạt chè già được tách ra từ cái vỏ khô, nâu, sần sùi để ươm rồi “đánh” luống gieo cây. Tôi cũng nhóm bếp, đốt củi guột sao chè trên cái chảo gang lớn, tay đen bởi vò chè và bỏng rát khi lấy hương. Theo tháng năm, tôi đã hiểu được từng giọt mồ hôi của người trồng chè, chế biến ra trà với hương vị riêng có của đất Thái.
Tôi không tham vọng bàn về cách uống trà mà bây giờ được nâng tầm gọi là “nghệ thuật thưởng trà”. Nhưng tôi biết có một cách uống trà chân thật nhất, đầy chất mộc mạc mà rất phổ biến của chính người Thái Nguyên - những người đổ mồ hôi sản xuất ra sản phẩm trà được ca ngợi là trứ danh, đệ nhất.
Thời bao cấp, kinh tế khó khăn, có những sáng tinh mơ mùa đông, tôi còn nằm cuộn chăn đã thấy cha tôi lục đục dậy nhóm bếp đun nước pha trà. Ông bảo: Uống chén trà đặc nóng đi làm cả buổi không đói, không cần ăn sáng… Cái ấm nóng của chén trà ngày ấy đến bây giờ vẫn dư âm trong lòng bàn tay tôi mỗi khi nhớ về một thời gian khó.
Có những buổi trưa hè, nắng dội lửa xuống cánh đồng, mấy ông hàng xóm đi làm đồng í ới gọi nhau, gác cày, buộc trâu, tìm một khoảng râm dưới gốc tre, lấy 1 ấm tích trà xanh được ủ từ sáng rót ra từng bát mời nhau. Từ những bàn tay còn mùi bùn ngai ngái nâng bát trà uống một hơi, tiếng cười xen tiếng rít thuốc lào đến tụt cả nõ vang từ đầu ruộng này đến cuối ruộng kia.
Thời ấy lấy đâu bàn trà, khay chén cầu kỳ, chỉ một chiếc bát sành, đôi khi là cái cốc nhôm dã chiến đã cũ. Ấy vậy mà chén trà ấy đủ để làm dịu cái khát, cái mệt, và làm ấm câu chuyện giữa những con người chân lấm, tay bùn.
Người Việt ta uống trà như thế từ bao đời nay. Không cần học theo những nghi thức phức tạp của trà đạo Nhật Bản, cũng chẳng câu nệ những quy tắc cầu kỳ như cách thưởng trà của người Hoa. Trà trong đời sống người Việt mộc mạc như chính con người Việt Nam.
Ấm trà xanh gói cả tâm tình người Việt.
Ở làng quê, chè xanh thường được hái ngay từ vườn nhà. Những lá chè “bánh tẻ” được vò sơ, cho vào ấm, thêm vài hạt muối, chế nước sôi, đợi một lát là có thể uống. Nước chè xanh óng có vị chát dịu, nhưng sau đó lại ngọt nơi cuống họng. Cái vị ấy, nếu ai đã quen, sẽ thấy nhớ, thấy thương, như nhớ mùi rơm rạ, nhớ tiếng gà trưa, nhớ cả những buổi chiều lộng gió trên đồng.
Chén trà không chỉ để uống, nó còn là cái cớ để người ta gặp nhau, để mở đầu câu chuyện. Khách đến nhà, câu đầu tiên thường là: “Mời bác chén nước chè”. Không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, chỉ cần có ấm trà là đã có thể tiếp khách, cái tình người cũng từ đó mà ấm lên.
Hương trà gắn kết nghĩa tình
Có lần tôi đến Trại Cài - một vùng đất nổi tiếng với giống chè trung du, bắt gặp mấy người nông dân đang nghỉ tay giữa buổi làm. Họ ngồi quây quần bên bờ ruộng, chuyền tay nhau một ấm chè. Mỗi người một chén trà, vừa uống vừa khề khà chuyện. Câu chuyện chẳng có gì lớn lao, chỉ là chuyện mùa màng, chuyện con cái, chuyện làng xóm. Nhưng tiếng cười thì giòn tan, vang lên giữa cánh đồng rộng. Tôi chợt nhận ra, chén trà ở đây không chỉ giải khát, mà còn gắn kết con người với nhau.
Người Việt uống trà bằng tâm, không cần các thủ tục vay mượn, rườm rà cầu kỳ, phức tạp. Các cụ cao niên thong thả ngối đối ẩm cũng không phải mời nhau theo kiểu “tay nâng chén trà ngang mày” rồi trước khi uống cúi đầu khiêm cung, nâng chén lên mũi phải hít hà, xoay chén trà mấy vòng rồi mới uống. Cũng không cần phải đo nhiệt độ nước, canh thời gian hãm trà chính xác từng giây. Chỉ cần một ấm nước sôi, một nắm chè, là đủ. Quan trọng là cái cách người ta ngồi xuống bên nhau, những câu chuyện “ giời bể” xoay quanh chén trà.
Người Việt uống trà mộc mạc, chân chất, không cầu kỳ, rườm rà.
Ở đô thị, thú uống trà có thể đã thay đổi ít nhiều, người ta có thể tìm đến những quán trà, những loại trà cầu kỳ hơn. Nhưng đâu đó, trong những góc nhỏ của cuộc sống, vẫn còn những ấm chè xanh giản dị, những chén trà mạn thêm vài cục đá mà tên gọi của nó dường như đã đi vào “từ điển” ẩm thực đường phố. Một bác xe ôm dựng xe bên vỉa hè, rót vội chén trà từ chiếc bình giữ nhiệt. Một cụ già ngồi trước hiên nhà, tay run run nâng chén nước chè nóng. Những hình ảnh ấy, tuy nhỏ bé, nhưng lại giữ được cái hồn của văn hóa trà Việt.
Có người nói, uống trà là một nghệ thuật. Phải chăng cách thưởng trà bình dân như vậy cũng là một nghệ thuật. Nhưng cao hơn với người Việt, có lẽ đó còn là một nếp sống, một nếp sống không ồn ào, không phô trương, mà lặng lẽ thấm vào từng khoảnh khắc và gắn với cuộc sống lao động đời thường. Từ bờ ruộng đến góc sân, từ mái nhà tranh đến phố xá đông đúc, chén trà vẫn hiện diện như một người bạn thân quen.
Và có lẽ, điều quý nhất của chén trà Việt không chỉ nằm ở hương vị, mà nó còn đậm đà ở cái tình. Tình người trong từng lời mời, tình quê trong từng ngụm nước. Một chén trà có thể làm dịu cái nắng, xua đi cái mệt, có thể nối gần những khoảng cách, làm ấm những mối quan hệ.
Chiều xuống, khi ánh nắng đã dịu, người nông dân lại tiếp tục công việc của mình. Chiếc ấm tích ủ chè xanh được đặt lại vào góc bờ ruộng, chờ một lần nghỉ ngơi khác. Chén trà đã cạn, nhưng dư vị thì vẫn còn - như một nét đẹp giản dị mà bền bỉ của người Việt, qua bao năm tháng vẫn không hề phai nhạt.
Ngọc Quang
Nguồn Thái Nguyên : https://baothainguyen.vn/dat-va-nguoi-thai-nguyen/202605/co-mot-cach-thuong-tra-nhu-the-82660e5/