1. Thật đáng kính nể nhiều đồng nghiệp. Có người trao hạnh phúc, niềm vui cho kẻ nghèo đói, bất hạnh bằng những suất cơm giá rẻ, bằng những chuyến đi trao học bổng, bằng tình cảm nhường cơm xẻ áo; lại có người tiếp tục với những trang viết tươi sáng, hướng thiện như một cách thắp lên niềm tin, che gió độc để giữ lấy ánh sáng của lòng thiện… Họ làm lặng lẽ, không ồn ào đánh bóng tên tuổi, đã quên mình đi đặng toàn tâm toán ý lo cho người khác, nói cách khác là họ quên đi cái tên của mình.
Các nhà văn nổi tiếng Việt Nam đã tạo được những tên tuổi bền vững theo thời gian. (Ảnh tư liệu).
Trong khi đó, với những nhà văn viết lách, có phải họ cần nhiều người biết đến cái tên của mình. Có đúng vậy không?
Với con người ta, cái tên của họ là quan trọng nhất. Trong quyển sách “Đắc nhân tâm”, ông Nguyễn Hiến Lê cho rằng, một trong những cách lấy thiện cảm người khác nhanh nhất, dễ nhất là hãy gọi đúng tên của họ. Tôi có một trí nhớ tồi tệ hay quên tên người khác, gặp nhau tay bắt mặt mừng, dù cố nặn óc cũng không thể nhớ ra được cái tên. Tệ thật! Lúc đó, cách khôn ngoan nhất, vẫn làm mặt tỉnh như ruồi, bảo: “Ông/anh, chị/ em cho mình cái “cạc-vi-dít” để lưu số điện thoại”. Vậy là xong. Thế nhưng thời buổi này lại không thể, đơn giản là hầu như không mấy ai còn xài “cạc-vi-dít”.
Người Việt sử dụng “cạc-vi-dít” từ lúc nào. Có thể từ thời thực dân mắt xanh mũi lõ xâm lược nước Nam ta, đơn giản đây là từ vay mượn tiếng Pháp: Carte de visite có nghĩa là tấm danh thiếp, có ghi thông tin như họ tên, nghề nghiệp, chức vụ, địa chỉ cơ quan, số điện thoại. Trong tiểu thuyết “Giăng thê”ì (1943) của nhà văn Tô Hoài có đoạn:
“Cậu cười:
- Gớm bác tài dỏ dẫm nhỉ?
- Chuyện nghề phải như thế chứ.
Còn “moa” Trần Văn Răng, “dit” Cao Sơn”, “cạc-vi-dít” đây”.
À, nếu làm nhà văn, nhà thơ mà ký tên Trần Văn Răng chắc chẳng mấy ai có cảm tình chăng? Vì mới đọc lên đã nghe răng răng rồi, khó lọt lỗ tai. Tương tự, nếu nhà thơ Du Tử Lê, lúc xuất hiện trên văn đàn ông ký tên thật Lê Cự Phách; Nguyễn Tất Nhiên ký Nguyễn Văn Hải chẳng hạn, chắc chẳng có ma nào thèm đọc. Thơ tình mà nghe “phách” với “hải”, nghe hãi thật đấy chứ. Cái tên cũng vận vào người. Nếu nhà văn Nam Cao không đặt tên Chí Phèo, Trạch Văn Đoành... hẳn sức sống nhân vật ấy khó “bền” đến hôm nay chăng? Ngẫm đi ngẫm lại thấy cũng hay. Không “đụng hàng”. Chắc chắn một điều đó là cái tên ấn tượng.
Ai chịu khó tìm hiểu bút danh của nhà văn cũng là thú vị. Lâu nay, sách báo vẫn ghi tên tự của hai nhà học giả, nhà văn Trương Vĩnh Ký là “Sĩ Tải”; Trương Minh Ký là “Thế Tải”. Liệu có đúng không? Như ta biết, tên tự được đặt theo lối dùng chữ đồng nghĩa với tên chánh, kèm theo một chữ dùng để làm cho tên tự được hoa mỹ. “Tải” có nghĩa là chuyên chở, trong khi “Tái” có nghĩa ghi chép như chữ “Ký”. Vậy Sĩ Tái; Thế Tái mới đúng chăng? Tiếc không tìm ra bút tích của họ để xem lập luận này có vững không? Nghe những bút danh như Bà Tùng Long, Anh Bồ Câu, Nghiêm Lệ Quân… rõ ràng chỉ thoáng một lần, đã nhớ.
Ngày trước, khi sinh con, người ta rất chú ý đến cái tên của con. Nếu đặt tên theo chữ Hán, ắt phải theo “bộ”. Suy nghĩ như thế, tôi quả quyết rằng, con trai của quan đại thần triều Nguyễn là cụ Tôn Thất Thuyết, phải là Tôn Thất Đàm. Bảng tên đường ở Sài Gòn hiện nay ghi Tôn Thất Đạm, có lẽ không đúng. "Thuyết" phải đi với "Đàm".
Với con người ta, cái tên của họ là quan trọng nhất. Nhớ đến tên họ, khi ta gọi thì lập tức họ dành ngay cho ta sự thiện cảm. Đúng quá. Có lần, thấy ông Bùi Giáng múa may quay cuồng ngoài phố, bất cần đời, đố ai có thể hạ hỏa được cơn điên mộng du trầm phù bi đát của trung niên thi sĩ? Lúc đó, muốn ông “tỉnh” lại, bước ra khỏi cơn “điên” thì hãy gọi đúng tên ông. Lập tức ông trở lại trạng thái hiền khô, nhưng chưa hề xẩy ra chuyện gì? “Chú mày gọi trẫm hả?”. Chưa dứt lời, ông đã nhảy vọt lên xe người vừa gọi rất đỗi thân tình, dù người đó lạ hay quen.
Nhà văn thường xài bút danh, ông Đoàn Thạch Biền tên thật Phạm Đức Thịnh. Trong bàn nhậu đầy đủ nam thanh nữ tú xinh đẹp ngời ngời, nếu có người phụ nữ nào gọi “anh Thịnh”, tôi cam đoan chỉ có thể là… vợ của anh Biền! Với nhà văn Nguyễn Đông Thức, họa hoằn lắm mới có người gọi tên thật Đức Thông!
Nhà văn Đoàn Thạch Biền kể, lúc anh và nhà văn Nguyễn Đông Thức làm những chuyến môtô về miền Tây Nam Bộ phát học bổng cho các em nghèo hiếu học, đã nghe được nhiều từ lạ, hay và ấn tượng. Chẳng hạn, khi nông dân ra đồng, vớt được tôm tép, cá các loại bất kỳ, bỏ chung vào nồi kho lên ăn, gọi là món “hủng hỉnh”. Tôi đã tra “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” (NXB TP Hồ Chí Minh) do Nguyễn Văn Ái chủ biên không tìm ra từ này. Tra thêm “Từ điển từ ngữ Nam Bộ” (NXB Khoa học Xã hội do Huỳnh Công Tín biên soạn), trang 616 giải thích: “Hủng hỉnh (dt): một loại cá nhỏ ở mương rạch, có dạng như cá lia thia, nhưng không chọi được:
Rô, trê, sặc bướm dầy dầy
Ròng ròng, hủng hỉnh lộn bày lia thia
(ca dao)”
Câu ca dao này quá hay. Nghe lạ tai. Anh Biền lại kể thêm, khi xẻ trái dừa ra, thấy phần trắng bên trong dày cộm, gọi “cơm dừa”; nếu chỉ một lớp mỏng, mềm gọi là… “cháo dừa”! Lần đầu tiên được nghe hai từ này. Người Quảng Nam ít gọi “cơm dừa”, mà gọi “cùi dừa”. Từ điển do Huỳnh Công Tín chủ biên, có câu nói minh họa “cháo dừa”: “Dừa mới váng cháo mà ăn cái gì, chỉ có uống nước là ngon” (tr.295). Vậy biết thêm từ “váng cháo”. Đọc cuốn sách của nhà văn Băng Sơn mới biết món xí quách, ngoài Bắc gọi bằng cái tên rùng rợn, cam đoan nghe xong hết dám xớn xác nhào vô bàn nhậu: “bốc mả”!
Chơi với người thông minh, lịch duyệt là mình đã học được đôi điều hay. Có lần, ông Sơn Nam dặn, đừng nhậu với mấy ông cán bộ hưu trí. Ngạc nhiên ghê, hỏi tại sao? Thì mấy ông đã về vườn rồi nhưng vẫn còn “ưu thời mẫn thế” lắm, nhiều ông bất mãn, mượn chén rượu là chửi vung xích chó, phê bình cái này, ca thán cái nọ, càm ràm chuyện kia… Nghe mệt cái đầu. Nên nhậu với các em trẻ, chúng nó còn trẻ, còn hăng, đầy nhựa sống, nhìn cuộc đời thoáng đạt, nhờ vậy mình cũng lây được cái sôi nổi trẻ trung đó. Nhìn đời thấy vui hơn.
Ngẫm thấy đúng.
2.Trở lại với chuyện bút danh, ta thử liệt kê vài bút danh thuộc loại “hàng độc” trong văn chương Việt Nam hiện đại, chẳng hạn: nhà thơ J.Leiba (Lê Bái), TchyA (nhà thơ Đái Đức Tuấn ký tắt Tôi chỉ yêu Angèle), họa sĩ Ngym (viết tắt Tôi chỉ yêu mợ), Tám Sạc Ne (họa sĩ Cát Hữu), Tout Seul (Tú Xơn, tức Phan Khôi), Phạm Thị Cả Mốc (tức Phạm Cao Củng)… Chỉ riêng T.T.Kh mãi mãi là một bí mật, không thể xác định đó là bút danh của ai.
Thời buổi này, có nhiều người viết, viết hay lắm, họ viết từ blog, Yahoo 360 đến Facebook nhưng họ vẫn chưa tạo được “cái tên” - dù sách cũng ra ầm ầm. Khó thật nhỉ? Tạo một cái tên quả là khó. Ai ai cũng có tên, nhưng thật ra chỉ là sự Vô Danh bởi cái tên này lẫn lộn cái tên kia trong thập loại chúng sinh. Khó ai có cái tên mà chỉ cần nghe qua tác phẩm, công trình nghiên cứu, sáng tạo, sự nghiệp của họ là đám đông nhớ ngay. Nhà thơ Nguyễn Duy viết:
Cứ chìm nổi giữa đám đông
Riêng ta xác định ta không là gì
À, có người lại cố tình tạo ra cái tên bằng cách nhại theo hình ảnh người nổi tiếng. Cũng là một cách. Bắt chước từ điếu xì gà Lahabana cầm tay, đến cái mũ bê-rê có đính sao vàng, cái áo khoác là “diễn” y chang hình ảnh của anh hùng Che Guevara (1928-1967). Nhại y chang làm gì, bởi mỗi một con người là một hình ảnh riêng biệt, chẳng ai giống ai, khi mình là mình thì mới thể hiện sự tự tin. Nhân đây nói luôn, có mệnh phụ phu nhân hỏi Che Guevara: “Ông sinh nơi nào, quê quán ở đâu?”. Che đáp: “Nơi nào còn tiếng khóc của sự bất công, áp bức thì nơi đó là quê hương tôi”. Câu phát biểu quá hay.
Trên đời này, người ta có thể quên nhiều thứ nhưng khó có thể quên cái tên của mình. Có lẽ khó quên nhất là cái tên của tình phụ như gai nhọn đã giết mình chết từng ngày trong dĩ vãng? Hay cái tên của người đàn bà đã hy sinh bản thân họ chỉ vì đời sống của mình? Tôi nghĩ, người ta luôn nhớ cái tên đã ở vế thứ hai, đó chính là mẹ mình.
Lê Minh Quốc