Cúng dường Tôn sư tế văn của Hòa thượng Từ Phong Như Nhãn

Cúng dường Tôn sư tế văn của Hòa thượng Từ Phong Như Nhãn
một giờ trướcBài gốc
Mỗi nghi thức, mỗi bước trình lễ đều mang ý nghĩa riêng, không chỉ để bày tỏ lòng thành mà còn thể hiện trật tự, phép tắc và lễ nghĩa. Trong hệ thống lễ nghi ấy, tế văn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là lời trình bày trang trọng trước linh vị, vừa là tiếng nói thay cho tâm tình của người sống đối với người đã khuất. Tuy ngày nay nhiều nghi thức cổ truyền dần mai một theo nhịp sống hiện đại, nhưng giá trị tinh thần và chiều sâu văn hóa mà tế văn mang lại vẫn là một phần không thể tách rời của phong tục truyền thống.
Hòa thượng Từ Phong (1864-1939)
Nói đến tế văn, không chỉ là hình thức nghi lễ trong dân gian mà còn là một nét đẹp trang nghiêm trong sinh hoạt Phật giáo. Ẩn trong từng câu chữ là đạo tình sâu nặng và tâm niệm tri ân. Trong dòng chảy ấy, bài Cúng dường Tôn sư tế văn của Hòa thượng Từ Phong (1864-1939) chính là một tác phẩm tiêu biểu, minh chứng rõ nét cho giá trị tinh thần và chiều sâu tâm linh, được Hòa thượng trước tác dâng lên Tổ sư Minh Khiêm - Hoằng Ân bằng tất cả lòng thành kính.
Hòa thượng Từ Phong: Vị danh tăng của Phật giáo Việt Nam
Hòa thượng Từ Phong, thế danh Nguyễn Văn Tường, sanh năm 1864 (Giáp Tý), tại thôn Đức Hòa Thượng, tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh), là con trai duy nhất trong một gia đình có ba chị em.
Năm 16 tuổi, ngài đến quy y với Thiền sư Minh Đạt tại chùa Thiền Lâm, làng Hiệp Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, ngài đến xin thọ giáo với Tổ sư Minh Khiêm - Hoằng Ân tại chùa Giác Viên, được ban cho pháp hiệu Từ Phong, húy Như Nhãn, chính thức nối dòng Lâm Tế đời thứ 39. Sau khoảng thời gian học tập cùng Tổ sư Hoằng Ân, sở học của ngài tiến bộ vượt bậc. Năm 1893, ngài được suy cử làm Yết-ma A-xà-lê tại giới đàn chùa Giác Viên. Năm 1887, ngài được Bổn sư cử về trụ trì chùa Giác Hải, tại xóm Chợ Gạo, làng Tân Hòa Đông (Phú Lâm).
Ngài là bậc cao tăng uyên bác, tinh thông Tam tạng, thông đạt cả nội điển lẫn ngoại gia. Với học vấn sâu rộng và đức hạnh sáng ngời, danh tiếng của ngài vang khắp Nam Kỳ đương thời. Trong vai trò pháp sư, ngài nhiều lần được thỉnh giảng tại các trường hương lớn: Long Quang (Vĩnh Long, 1909), Giác Lâm (Gia Định, 1912), Vĩnh Tràng (Mỹ Tho, 1919) và Bửu Long (Vĩnh Long, 1920).
Từ năm 1920 đến 1925, ngài cho kiến lập chùa Thiền Lâm tại Gò Kén (Tây Ninh) làm đạo tràng tu học và hoằng pháp. Đến năm 1926, vì tinh thần từ bi và lòng bao dung mà cho mượn chùa Thiền Lâm làm nơi tạm thời sinh hoạt của một tôn giáo nội sinh mới hình thành tại Tây Ninh. Việc làm này tuyệt nhiên không hàm chứa bất kỳ sự chuyển hướng niềm tin nào. Tuy nhiên, về sau đã xuất hiện một số nhận định phiến diện cho rằng ngài từ bỏ Phật giáo để theo ngoại đạo. Những phát biểu trên không phản ánh đúng sự thật lịch sử, càng không phù hợp với toàn bộ hành trạng và cống hiến của ngài cho Phật giáo. Thực tế, ngài chưa từng chấp nhận bất kỳ chức vị nào của tôn giáo khác, cũng không hề mặc phẩm phục hay thực hành nghi lễ ngoài truyền thống Phật giáo. Suốt cuộc đời tu hành, ngài vẫn kiên định trên con đường Phật pháp, thể hiện rõ phẩm hạnh của một bậc chơn tu giữa thời cuộc nhiều biến động.
Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam hình thành và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt tại Nam Kỳ trong giai đoạn đầu thế kỷ XX. Nhiều bậc cao tăng đã tích cực tham gia nhằm chấn chỉnh Tăng đoàn, xiển dương Phật học; trong đó, Hòa thượng Từ Phong giữ vai trò quan trọng với những đóng góp nổi bật trong giáo dục và hoằng pháp.
Năm 1920, ngài cùng Hòa thượng Khánh Hòa sáng lập Hội Lục Hòa nhằm đoàn kết Tăng chúng và thúc đẩy việc học Phật. Đến năm 1931, khi Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học ra đời, ngài được suy cử làm Chánh Hội trưởng tại nhiệm kỳ năm 1932 và 1933. Sau đó, với sự thành lập của Liên đoàn học xã, ngài tiếp tục đảm nhiệm công việc giảng dạy, đào tạo Tăng Ni, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền Phật học Nam Kỳ thời bấy giờ.
Năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập tại Trà Vinh. Hội mở Phật học đường để đào tạo Tăng Ni, ngài giữ chức Đại Đạo sư của hội và cũng tham gia giảng dạy. Các vị nổi tiếng sau này như Hòa thượng Hành Trụ, Thiện Hòa, Thiện Hoa, v.v… cũng xuất thân từ Phật học đường này.
Đầu năm 1939, ngài an tịch tại chùa Thiền Lâm (Tây Ninh) vào ngày 5-12 năm Mậu Dần (nhằm ngày 24-1-1939). Đồ chúng xây tháp mộ tại chùa Thiền Lâm và tháp vọng tại chùa Giác Hải để ghi nhớ một vị Hòa thượng suốt đời phụng sự đạo pháp, xương minh Phật học, đào tạo Tăng tài, góp phần duy trì mạng mạch Phật giáo.
Các tác phẩm ngài để lại gồm có: Khải cáo phát minh văn (1909), Quy nguơn trực chỉ (1912), Tông cảnh yếu ngữ lục (1915), Phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa (1932).Việc diễn nghĩa kinh Phật sang chữ Nôm giúp ích rất nhiều cho hàng hậu học, nhất là những nhà phiên dịch kinh điển từ Hán văn sang Việt văn.
Chư Hòa thượng lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật học (từ trái sang, hàng ngồi: Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng An Lạc, Hòa thượng Từ Phong, Hòa thượng Huệ Quang) và Tăng sinh Phật học đường Lưỡng Xuyên - Ảnh: Tư liệu
Cúng dường Tôn sư tế văn: Giá trị văn chương trong không gian nghi lễ Nam Bộ
Trở lại với tác phẩm chữ Nôm “Cúng dường Tôn sư tế văn” của Hòa thượng Từ Phong. Bài tế văn được tìm thấy trong thủ bản và bản khắc in của tác phẩm Phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa.
Hòa thượng Từ Phong đã sử dụng thể văn biền ngẫu cho bài tế văn của mình. Mỗi cặp câu đối nhau được gọi là một liên. Thậm chí, trong cùng một câu cũng có thể chia thành nhiều vế khác.
CÚNG DƯỜNG TÔN SƯ TẾ VĂN
Khêu máy âm dương, lòng huê nguyệt không không sắc sắc;
Đưa đò tạo hóa, nẻo luân hồi khứ khứ lai lai.
Đầu đá rũ, cành huê bay, dè thầy hỡi trì câu bối diệp;
Chiếc dép cầm, cành lau cỡi, than thầy đà về chốn thiên thai.
Nhớ đức thầy xưa:
Lân mẫn ba ngàn thế giới;
Hư minh một tấm linh đài.
Trăm hạnh hỡi vuông tròn tánh phận;
Nửa điểm không bạ dính trần ai.
Phản vọng quy chơn, đầu Phật những ngày bé chút;
Bội trần hiệp giác, xuất gia từ thuở mười hai.
Mùi đạo vị ngọt ngon kiêng hẳn trần duyên thói tục;
Chuỗi Bồ-đề làm bạn hê ha thanh tịnh thú vui.
Nương gậy Kim-cang tìm giác lộ ngàn trùng vòi vọi;
Noi thoàn Bát-nhã lánh mê tân mấy trượng vời vời.
Phước độ người, huệ hóa người, người phước huệ bốn phương đồn đãi;
Từ vui chúng, bi cứu chúng, chúng từ bi một dạng dồi mài.
Qua Hà Giản, lại Đông Hiên, rực rực thấy xuân san đỏ tía;
Vào khe son, ra bãi cát, làu làu xem thu thủy sáng ngời.
Quán Âm tán Phật thủ thang, ân Tam-miệu đãi đều lớn bé;
Tế sanh cao Cam lộ ẩm, đức Đại thừa nhuần khắp gái trai.
Ái vật là lòng hằng có thương người khổ hải;
Hiếu sanh ấy đức tồn tế độ chốn phàm giai.
Noi giáo Thích minh tâm kiến tánh, chịu ơn vua độ điệp long bài;
Gương trí huệ soi lòng đã sáng, phấn quân vương dội mặt thêm tươi.
Chùa Sùng Đức dấu xưa, bình thọ vực, tớ thầy mong mỏi;
Kiểng Tịnh bang chốn cũ, dặm huyền đồ, thầy phất xa chơi.
Ôi!
Giấc say trăm tuổi chiêm bao vắn;
Sương đạm ba thu nước mắt dài.
Chốn thiền đường vắng vẻ trong ngoài;
Nơi tịnh thất quạnh hiu sau trước.
Trời xanh hỡi mịt mù, biết ai cậy vén mây rẽ đóa;
Cả rừng còn rậm rạp, biết ai nhờ đốn gốc phát cây.
Thầy lại Thiên Đàng, hãy để hạnh lành bày trước mặt;
Thầy về Cực Lạc, ai xuôi lời đạo thấu vào tai.
Đạo từ bi bỗng hóa sầu bi, còn chi gọi kiêm bi thôi đã thương bi vạn cổ;
Người nhơn ngãi đã nên đoạn ngãi, còn chi rằng hiệp ngãi thôi đã ngãi biệt thiên thu.
Nay còn đây liếp phủ màn vây, có khi thấy, thấy chăng, thấy hương tàn khói lạnh;
Mai rời đó vôi nồng cát lấp, còn chi nhìn, nhìn chăng, nhìn phấn lạt son vơi.
Người công đức no niêu gặp gỡ;
Đạo tớ thầy bao thuở nguôi ngoai.
Lễ dụng đơn xe, lòng cẩn niệm hai trời sanh dục;
Mình đem điếu tế, dạ cực cùng một tấm bi ai.
Đạm thủy thô trà, vơi chước ba tuần nơi tấn thất;
Thiện nam tín nữ, cúi dưng bốn lạy trước quan tài.
Nhạc là khí, tế là văn, ba vạc tám mồi, nửa nhỏ nào thông chín suối;
Giới ở tâm, trai ở tánh, chín trời mười đất, một thành ra nhỏ ba tai.
Linh dầu chứng sanh sô một tiệc;
Chút phỉ nguyền bổn đạo chúng tôi.
Phục duy thượng hưởng!
(bản tế văn được giữ nguyên bản phương ngữ Nam Bộ xưa)
Tưởng niệm một bậc cao đức
Cúng dường Tôn sư tế văn là một bài văn tế giàu giá trị triết lý và cảm xúc, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo của văn hóa Việt Nam. Với hình thức biền ngẫu trang trọng, giọng điệu thống thiết và những hình ảnh đậm màu sắc Thiền gia, ta thấy được chân dung một bực thầy khả kính, đồng thời bày tỏ nỗi đau tiếc thương của người đệ tử trước sự ra đi của thầy mình. Hạnh thờ thầy là một trong những hạnh tu đầu tiên của người xuất gia. Đọc những lời văn của Hòa thượng Từ Phong dành cho Tổ sư Hoằng Ân, hạnh tu tưởng chừng như đơn giản ấy lại trở nên sâu sắc, đẹp đẽ và xúc động vô cùng.
Tháp vọng Hòa thượng Từ Phong tại chùa Giác Hải (P.Bình Tây, TP.HCM)
Và quả thật, sự cúng dường của ngài không chỉ dừng lại ở tế văn, mà còn được thể hiện trọn vẹn qua cuộc đời ngài. Miệt mài trên con đường cầu học, Hòa thượng Từ Phong chưa từng quản ngại gian nan hay khoảng cách xa xôi. Với chí nguyện cầu pháp tha thiết, ngài không ngừng tìm đến các trung tâm Phật học lớn đương thời để trau dồi giới định huệ. Trong đó, Phật học đường Sông Tra tại tổ đình Linh Nguyên là nơi chuyên giảng dạy kinh và luận, còn tổ đình Long Thạnh lại nổi danh về luật học, trở thành hai đạo tràng quan trọng bồi dưỡng nền tảng học thuật và giới hạnh cho hàng Tăng sĩ bấy giờ. Song song đó, ngài còn một lòng thọ học nghi lễ từ Tôn sư, từng bước hun đúc đạo phong trang nghiêm.
Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập vào năm 1931 và ra báo Từ Bi Âm đã ghi lại tâm nguyện sâu xa của ngài bằng những lời chân thành và cảm động: “tôi muốn lập một hội để lo xương minh Phật học, nên thường khi thừa dịp chứng minh trường hương hay là trường kỳ với dự đám trai đàn, cúng kiếng trong các chùa thì có diễn thuyết, khuyên bạn đồng đạo hiệp cùng mà lập hội ấy”.
Lời bộc bạch ấy cho thấy, từ rất sớm ngài đã ấp ủ khát vọng xây dựng một tổ chức có đủ năng lực chấn hưng Phật giáo, quy tụ Tăng tài, chấn chỉnh giáo lý và khơi dậy sanh khí đạo pháp. Giữa bối cảnh Phật giáo đang đứng trước nhiều thử thách của thời cuộc, sự ra đời của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học đã trở thành tiếng chuông khai mở, đánh dấu bước khởi đầu cho Phong trào chấn hưng Phật giáo trên phạm vi cả nước.
Khép lại những trang viết này, xin được mượn “Cúng dường Tôn sư tế văn” như một nhịp cầu thiêng liêng nối liền quá khứ và hiện tại, để từ đó lắng lòng tưởng niệm và tôn vinh đạo hạnh cao cả của Hòa thượng Từ Phong. Giữa thời khắc năm Ất Tỵ dần khép lại, cũng là lúc ngày húy kỵ của ngài (5-12 Âm lịch), lòng người lại càng lắng sâu nhớ về bậc thầy năm xưa – người đã một đời lấy đạo nghĩa làm gốc, lấy hiếu kính làm căn bản, dâng trọn tâm huyết để tôn vinh Tổ sư Hoằng Ân bằng chính đời sống tu hành thanh khiết của mình.
Tâm Phú - Hồ Minh Thanh Tài/Báo Giác Ngộ
Nguồn Giác ngộ : https://giacngo.vn/cung-duong-ton-su-te-van-cua-hoa-thuong-tu-phong-nhu-nhan-post78597.html