Cúng mùng 3 tiễn ông bà: Miền Tây Việt hóa sự tích thành phong tục đẹp

Cúng mùng 3 tiễn ông bà: Miền Tây Việt hóa sự tích thành phong tục đẹp
3 giờ trướcBài gốc
Mâm cúng mùng 3 đơn giản của người miền Tây - Ảnh: Văn Kim Khanh
Khi tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu
Nếu mùng 1 là ngày chúc Tết, mùng 2 là ngày thăm hỏi, thì mùng 3 trong lòng người miền Tây lại mang một ý nghĩa rất riêng: ngày tiễn ông bà. Đó là lúc khói nhang còn thơm, bánh tét còn xanh màu lá, thịt kho vẫn còn vương mùi nước dừa, nhưng không khí đã dần chuyển sang nhịp sống thường nhật.
Ở miền Tây Nam Bộ, người ta gọi lễ này bằng cái tên giản dị mà ấm lòng: “cúng đưa ông bà”, vừa trang nghiêm vừa gần gũi. Có nơi gọi là “hóa vàng”, nhưng phần hồn cốt của phong tục lại không nằm ở giấy tiền vàng mã, mà nằm ở chữ hiếu và chữ tình.
Trong văn hóa Việt, ngày 29 hoặc 30 Tết là thời điểm rước ông bà về nhà. Người miền Tây quan niệm rằng Tết không trọn nếu bàn thờ gia tiên chưa đỏ nhang, chưa có mâm cơm cúng rước tổ tiên.
Vì vậy, suốt ba ngày đầu năm, nhà nào cũng giữ nếp thờ phụng cẩn thận. Bàn thờ luôn có hoa tươi, mâm trái cây, trà rượu. Bữa cơm đầu năm không chỉ dành cho người sống, mà còn là phần lễ kính dâng lên người khuất.
Những ngày này, dù nhà nghèo hay khá giả, người ta vẫn cố gắng có nồi thịt kho, dĩa dưa kiệu, đòn bánh tét để “ông bà về ăn Tết cho vui”.
Mùng 3 - lễ tiễn ông bà
Theo quan niệm dân gian, tổ tiên về ăn Tết với con cháu một thời gian nhất định, rồi đến mùng 3 phải trở lại cõi âm. Từ đó hình thành phong tục cúng mùng 3 như một bữa cơm chia tay.
Lễ cúng mùng 3 mang nhiều lớp nghĩa. Đó là lời cảm ơn ông bà đã về sum họp, phù hộ con cháu. Đó cũng là sự khép lại của những ngày nghỉ Tết để bắt đầu cho một năm mới lao động, làm ăn.
Người miền Tây thường nói vui: “Tiễn ông bà xong là hết Tết, lo mà ra ruộng”. Câu nói nghe giản dị nhưng lại phản ánh đúng tâm thế của vùng đất quanh năm gắn với mùa vụ.
Tùy điều kiện từng nhà, mâm cúng mùng 3 có thể đầy đủ hay giản dị, nhưng vẫn thường có các phần chính: nhang đèn, hoa tươi, trầu cau, trà rượu và mâm cơm, quan trọng là có con gà luộc hay nấu cháo.
Với người miền Tây, mâm cơm tiễn ông bà thường không thể thiếu: gà luộc, bánh tét, trái cây, đôi khi thêm canh, món kho, dưa món hoặc củ kiệu. Nhiều gia đình chuẩn bị mâm cúng mặn không kém gì mùng 1, bởi đây là “bữa cơm cuối” ông bà ăn với con cháu.
Bên cạnh đó là vàng mã, giấy tiền để “gửi lộ phí”. Dù ngày nay việc đốt vàng mã được khuyến khích hạn chế vì môi trường, nhưng người dân vẫn giữ tinh thần cốt lõi: cúng để nhớ, để kính, để tri ân.
Một nét rất đặc trưng trong nhiều mâm cúng hóa vàng của người Việt xưa là hai cây mía. Dân gian truyền rằng mía là “gậy” để ông bà chống đi đường xa, đồng thời là đòn gánh để mang theo lộc phước, vàng bạc con cháu gửi xuống.
Có người còn kể chuyện rằng, dọc đường về cõi âm, ông bà có thể gặp cô hồn quấy nhiễu, nên cây mía trở thành “vũ khí” xua tà. Dù thực hư thế nào, hình ảnh hai cây mía dựng cạnh mâm cúng vẫn tạo nên không khí rất Tết, rất dân gian.
Mâm cúng mùng 3 ở các vùng miền khác - Ảnh: T.L
Việt hóa sự tích thành phong tục tiễn ông bà
Điều đáng nói là phong tục mùng 3 vốn có nguồn gốc từ tín ngưỡng Á Đông, nhưng khi đi vào miền Tây đã được Việt hóa theo cách mộc mạc, thực tế và đậm tính nông nghiệp.
Ông Bùi Văn Tước, một lão nông ở Bình Minh (Vĩnh Long), từng chia sẻ rằng tục cúng mùng 3 có thể bắt nguồn từ nhiều sự tích của người Hoa, nhưng khi vào miền Tây thì đã hòa vào đời sống người Việt.
“Ở miền Tây, mình rước ông bà về từ 29, 30. Vui Tết ba ngày, rồi khuya mùng 3 khoảng 4 giờ sáng làm mâm cúng hoa quả, gà luộc, bánh tét, trái cây, vàng mã để tiễn ông bà về cõi âm. Xong con cháu ăn phần cúng, rồi chuẩn bị đi làm đồng,” ông Tước kể.
Ngày trước, miền Tây chủ yếu làm lúa mùa. Sau mùng 3, khi “ông bà đã về”, người ta bắt đầu ra ruộng gặt hái, bởi “đồng vàng” không chờ ai.
Văn Kim Khanh
Nguồn Một Thế Giới : https://1thegioi.vn/cung-mung-3-tien-ong-ba-mien-tay-viet-hoa-su-tich-thanh-phong-tuc-dep-246415.html