Cuộc khởi nghĩa mang đậm chất Quảng

Cuộc khởi nghĩa mang đậm chất Quảng
5 giờ trướcBài gốc
Những người con xứ Quảng viếng mộ hai cụ Thái Phiên và Trần Cao Vân tại Huế. Ảnh: P.P
“Trời xanh với tấm lòng này tương tri”
Không phải ngẫu nhiên khi nhiều nhà nghiên cứu gọi cuộc khởi nghĩa vua Duy Tân 1916 là “Khởi nghĩa Thái Phiên - Trần Cao Vân”, do hai yếu nhân lãnh đạo là gốc Quảng và các nhân vật chủ chốt đều là người Quảng. Nếu chỉ xét lực lượng, vũ khí hay thời cơ, khởi nghĩa Duy Tân khó có thể so sánh với nhiều phong trào khác nhưng điều làm nên sự khác biệt của nó chính là phong cách tổ chức và hành động quyết liệt đậm chất Quảng.
Thái Phiên xuất thân là một sĩ phu Quảng Nam, là lớp Tây học sớm tiếp xúc với tư tưởng canh tân đầu thế kỷ 20, ông từng bước rời bỏ con đường hoạt động công khai để tham gia Việt Nam Quang Phục hội. Thái Phiên nổi bật ở năng lực tổ chức thực tiễn, ông gây dựng cơ sở ở Trung Kỳ, liên lạc với các đầu mối quân sự, vận động tài chính và đặc biệt là thuyết phục, tập hợp những nhân vật cùng chí hướng tham gia phong trào.
Trần Cao Vân là một nhà nho từng trải, ông chuyển hóa từ trung quân truyền thống sang tư duy cách mạng mới, nhưng vẫn coi yếu tố chính danh là điều kiện sống còn của khởi nghĩa. Chính ông nhiều lần nhấn mạnh rằng khởi nghĩa không thể chỉ là bạo động địa phương, mà phải mang danh nghĩa “phò vua, phục quốc”. Vì lẽ đó, ông đề xuất và đã cùng Thái Phiên tìm cách gặp vua Duy Tân để vận động nhà vua làm ngọn cờ khởi nghĩa.
Sự phối hợp giữa hai người thể hiện rõ nét tính cách và phong cách Quảng: một người thiên về hành động, tổ chức (Thái Phiên), một người thiên về tư tưởng, chính danh (Trần Cao Vân), nhưng cùng thống nhất ở tinh thần quyết liệt và chấp nhận hy sinh.
Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ tinh thần thẳng thắn trong tư duy và tranh luận, do ngay từ đầu Thái Phiên, Trần Cao Vân chủ xướng không lôi kéo người khác bằng những lời hứa mơ hồ. Sau khi trao đổi với các đồng chí của mình về khả năng thành bại, về chính danh, về mô hình nhà nước sau khởi nghĩa, bởi hai ông đều biết người Quảng không dễ tin, nhưng khi đã tin thì tin đến tận cùng, đó là lý do phong trào hầu hết yếu nhân nổi dậy ở các địa bàn trọng yếu đều là người Quảng.
Việc thuyết phục vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa là một thắng lợi lớn, vì đảm bảo sự chính danh cũng như khả năng quy tụ lực lượng. Bị thuyết phục bởi tinh thần “nghĩa khí cương cường” của những người Quảng, vua Duy Tân đã rất sốt sắng tham gia. Bức chiếu khởi nghĩa (ngày 29/4/1916) của nhà vua có đoạn: “Ý Trời cũng vừa tỏ ra thuận theo mong muốn của Trẫm, đã cổ súy tất cả những người cùng chung nguyện vọng, vào đúng lúc thời cơ tốt đang đến. Mọi người đã cùng Trẫm bàn bạc, rồi thảo ra một văn kiện cho lưu hành khắp nơi, nhằm giành lại di sản của tổ tiên Hồng Bàng”.
Mấy ngày sau đó, hai nhân vật chủ chốt của phong trào là Trần Cao Vân và Thái Phiên giả dạng người câu cá đến gặp vua trên bờ hồ Hòa Bình sau Hoàng cung. Tại đây, họ đã bàn bạc và thống nhất ngày khởi nghĩa. Nhà vua đã trao cho Trần Cao Vân 100 đồng bạc Đông Dương, để phân phát cho các hội viên. Kể từ ngày đó trở đi, việc tuyên truyền vận động chỉ giới hạn trong một số người, như một số nhà nho, thân hào, một số lính khố xanh, là số người có uy tín để phát triển hội viên. Người ta tiến hành may đồng phục, may cờ, rèn vũ khí như giáo, mã tấu, và sản xuất cả bom...
Lính thị vệ hoàng cung - một lực lượng khởi nghĩa của vua Duy Tân - Ảnh: Tư liệu
“Sử sách ngàn thu chép rạch ròi”
Phong cách Quảng còn thể hiện rõ ở cách phân công nhiệm vụ của Thái Phiên và Trần Cao Vân cho lực lượng khởi nghĩa: Hầu hết nhiệm vụ then chốt đều do người Quảng thống lĩnh…
Khi khởi sự, theo Phan Thành Tài kể lại, Trần Cao Vân trả lời nhà vua là: “Thưa, phải đợi cho mọi người chìm vào giấc ngủ sâu mới cho khởi sự được! Về phần tôi, chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng thượng. Ông Phó cố vấn Thái Phiên sẽ chỉ huy đội quân tấn công kinh thành Huế. Ông Chánh tướng (Lâm Nhĩ) sẽ chỉ huy tấn công đồn Mang Cá, ông Phó tướng sẽ tấn công Hoàng thành!”.
Theo đó, Trần Cao Vân hộ tống nhà vua ra khỏi kinh thành, còn chính Thái Phiên chịu trách nhiệm chỉ huy việc tấn công và giữ kinh thành cùng các bộ. Tổng chỉ huy Lâm Nhĩ chỉ huy các toán quân tấn công các đồn lính chiến và lính bảo an ở khu vực Tòa Khâm sứ và Tòa Công sứ Thừa Thiên, trong lúc đó cấp phó của ông phụ trách việc vận động các lính pháo thủ và lính mộ đột kích khu nhượng địa và đồn Mang Cá để chiếm lấy vũ khí, quân trang quân dụng.
Trong cuộc khởi nghĩa vua Duy Tân, Quảng Nam là địa phương nổi dậy quyết liệt nhất, chiếm được phủ đường Tam Kỳ, điều mà những nơi khác không thực hiện được. Tại đây, dưới sự chỉ huy của Phó Bẽm (Trần Huỳnh), Trần Nê, Trần Tuyên, Trần Tùng Vân và Cao Chai, lực lượng nổi dậy đã chiếm phủ đường, tiến đánh Tòa Đại lý hành chính, gây bất ngờ lớn cho Pháp. Một bức điện mật của Pháp cho biết: “Hôm nay, Công sứ cho biết Tam Kỳ (Quảng Nam) cách Hội An 50km, bị tấn công bởi một nhóm vũ trang”.
Sau cuộc khởi nghĩa, tại Quảng Nam, Pháp bắt hàng nghìn người tham gia (nhiều nhất Trung Kỳ): “Hơn 120 cuộc truy bắt đã được tiến hành liên tục từ ngày 4 đến ngày 25/5/1916 trong phủ Tam Kỳ… Chúng tôi đã lọc ra số can phạm không quan trọng giao cho các nhà chức trách địa phương tạm thời coi giữ. Chúng tôi không còn chỗ để giam giữ và không có đủ người để trông coi họ...”.
Tại Tam Kỳ, trong một tuần Pháp bắt hàng trăm người, kết án 72 người, xử tử 10 người. Tại Hội An, trong sáng 3/5/1916, thực dân Pháp bắt hơn 500 người.
Điều đặc biệt, khi khởi nghĩa thất bại, Thái Phiên và Trần Cao Vân nhanh chóng nhận toàn bộ trách nhiệm về mình. Tính cách Quảng cũng thể hiện quyết liệt qua cái chết của hai ông trên đoạn đầu đài, họ bình thản, an nhiên trước khi chết: Lúc 4 giờ 30 phút chiều 17/5/1916, tại bãi chém An Hòa (Huế).
Cuộc khởi nghĩa vua Duy Tân cho thấy tinh thần “nước bẩn thì lấy máu mà rửa” của cha ông, nhất là khí chất nghĩa khí, cương cường của người Quảng, những người sẵn sàng “sát thân thành nhân” để đất nước trường tồn.
LƯU ANH RÔ
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/cuoc-khoi-nghia-mang-dam-chat-quang-3324482.html