Theo đại biểu, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) bám sát chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới; đồng thời có nhiều đổi mới mạnh mẽ về tư duy lập pháp, chuyển từ cách tiếp cận “quy định chi tiết, quản lý theo từng lĩnh vực” sang thiết kế một khung thể chế tổng thể, có tính mở, trao quyền, tạo dư địa phát triển dài hạn cho Thủ đô.
Đại biểu Leo Thị Lịch phát biểu tại hội trường.
Dự thảo Luật không chỉ sửa đổi kỹ thuật một số điều khoản, mà thực chất là tái thiết lại cấu trúc chính sách phát triển Thủ đô, từ quy hoạch, phân quyền, tổ chức không gian phát triển, huy động nguồn lực, đến liên kết vùng. Đây là cách tiếp cận phù hợp với vị thế đặc biệt của Hà Nội – trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế.
Nếu đặt trong tương quan với các nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù mà Quốc hội đã ban hành cho các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ… thì Luật Thủ đô (sửa đổi) có bước vượt trội cả về cấp độ pháp lý, phạm vi điều chỉnh và mức độ trao quyền.
Cụ thể, về cấp độ pháp lý, các địa phương hiện nay chủ yếu thực hiện cơ chế đặc thù theo nghị quyết thí điểm với phạm vi và thời hạn nhất định; trong khi đó, Thủ đô được thiết kế bằng một đạo luật riêng, có tính ổn định, bao quát và lâu dài hơn. Điều này là cần thiết, bởi Thủ đô không chỉ là một cực tăng trưởng kinh tế, mà còn gắn với các yêu cầu về chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và biểu tượng quốc gia.
Về phạm vi chính sách, các nghị quyết đặc thù hiện hành thường tập trung vào một số nhóm lĩnh vực như tài chính – ngân sách, đầu tư, đất đai, tổ chức bộ máy; còn dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) bao trùm toàn diện hơn, từ quy hoạch tích hợp, phát triển không gian đô thị, không gian ngầm, không gian tầm thấp, tầm cao, đến mô hình TOD (mô hình phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng), kinh tế mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, và đặc biệt là liên kết vùng. Có thể nói, đây là cách tiếp cận mang tính hệ thống, tạo nền tảng cho phát triển dài hạn.
Về mức độ trao quyền, đại biểu cho rằng dự thảo đã thể hiện một bước tiến rất rõ trong tư duy phân quyền. Không chỉ là giao thêm một số thẩm quyền cụ thể, mà là xác lập nguyên tắc “phân quyền tối đa, toàn diện, đi đôi với kiểm soát quyền lực”. Điều này thể hiện sự tin tưởng, đồng thời cũng là yêu cầu đặt ra đối với chính quyền Thủ đô trong việc nâng cao năng lực quản trị, trách nhiệm giải trình và hiệu quả điều hành.
Về chính sách huy động và phát huy nguồn lực phát triển Thủ đô, dự thảo cũng đã có bước chuyển đáng ghi nhận khi tiếp cận nguồn lực phát triển Thủ đô theo nghĩa rộng, không chỉ là ngân sách, mà bao gồm cả nguồn lực đất đai, không gian đô thị, hạ tầng, khoa học – công nghệ, nhân lực chất lượng cao và các mô hình kinh tế mới.
Việc gắn cơ chế nguồn lực với các công cụ như TOD, không gian ngầm, không gian tầm thấp, tầm cao, dự án lớn, nhà đầu tư chiến lược là cách làm rất đúng, phù hợp với xu hướng phát triển đô thị hiện đại trên thế giới. Đặc biệt, việc cho phép thành phố chủ động hơn trong việc quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ, huy động nguồn lực xã hội, kết hợp với khai thác giá trị gia tăng từ đất đai và hạ tầng, nếu được triển khai tốt sẽ giúp Hà Nội chuyển từ tư duy “phụ thuộc ngân sách” sang tư duy “tự tạo nguồn lực phát triển”.
Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả cao, đại biểu Leo Thị Lịch đề nghị ban soạn thảo cần làm rõ hơn về một số vấn đề như: Cơ chế thu hồi và phân chia hợp lý phần giá trị tăng thêm từ phát triển đô thị và hạ tầng. Nếu chỉ mạnh về ưu đãi, thu hút đầu tư mà chưa có cơ chế điều tiết phần địa tô chênh lệch, phần giá trị gia tăng từ đất và không gian đô thị, thì Nhà nước có thể chưa giữ được nguồn lực tương xứng để tái đầu tư cho phát triển bền vững. Đây là điểm cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Đại biểu cũng đồng tình và đánh giá cao chính sách liên kết, phát triển vùng Thủ đô. Dự thảo Luật đã chuyển từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính sang tư duy phát triển theo không gian kinh tế - xã hội mở, xác định rõ vai trò của Hà Nội là hạt nhân, là cực tăng trưởng, đồng thời thiết kế các cơ chế phối hợp về quy hoạch, hạ tầng, môi trường, logistics, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế… giữa Hà Nội và các địa phương trong vùng.
Đặc biệt là việc quy định cơ chế chia sẻ chi phí, phân bổ nguồn lực, phối hợp thực hiện dự án liên vùng, cũng như ưu tiên nguồn lực từ ngân sách trung ương cho các dự án có tính lan tỏa là rất cần thiết, phù hợp với thực tiễn phát triển hiện nay.
Tuy nhiên, để liên kết vùng thực sự hiệu quả, đại biểu đề nghị ban soạn thảo cần thể hiện rõ một vấn đề then chốt, đó là phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các địa phương tham gia. Liên kết vùng chỉ bền vững khi mỗi địa phương đều thấy rõ lợi ích cụ thể của mình, từ kết nối hạ tầng, thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ, đến cải thiện môi trường sống. Do đó, cần làm rõ hơn cơ chế phân chia lợi ích, trách nhiệm đóng góp và cơ chế xử lý khi có vướng mắc trong quá trình phối hợp.
Mai Phương