Từ người thanh niên yêu nước đến chiến sĩ cách mạng kiên trung
Đại tướng Lê Đức Anh (1-12-1920 / 22-4-2019), tên thật là Lê Văn Giác, bí danh là Nguyễn Phú Hòa, Sáu Nam, sinh tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế (xã Lộc An, TP Huế ngày nay). Trên vùng quê nghèo ven biển, Lê Đức Anh lớn lên giữa lúc nước nhà chìm trong ách áp bức bóc lột của chế độ thực dân, nửa phong kiến. Từ nhỏ, ông chứng kiến cảnh quê hương nghèo đói, người dân dưới ách nô lệ phải chịu sưu cao thuế nặng, bị bóc lột và đàn áp dã man... Tận mắt chứng kiến và cảm nhận thực tiễn đời sống của người dân mất nước, ông sớm giác ngộ tinh thần yêu nước từ gia đình và quê hương, nung nấu ý chí đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do, độc lập.
Năm 1937, khi mới 17 tuổi, Lê Đức Anh đã tham gia công tác trong phong trào thanh niên phản đế ở địa phương. Năm 1938, ông trở thành hội viên Công hội Đỏ - tiền thân Công đoàn Việt Nam. Đến tháng 5-1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng tặng Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước, ngày 29-7-2013. Ảnh: TTXVN
Sự gắn bó bền bỉ với phong trào cách mạng từ rất sớm đã hình thành ở ông phẩm chất nổi bật: Lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên cường, tinh thần dấn thân và niềm tin tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ và con đường tất thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Vị tướng trưởng thành từ thực tiễn chiến trường, có mặt ở những nơi gian khổ nhất
Cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng Lê Đức Anh trải dài qua ba cuộc chiến lớn của dân tộc: Kháng chiến chống thực dân Pháp; kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược; chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Trong kháng chiến chống Pháp: Trưởng thành, bản lĩnh từ gian lao
Năm 1946, ông nhập ngũ tại Trung đoàn 10, Bộ tư lệnh Nam Bộ. Tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, nơi ác liệt bậc nhất thời bấy giờ, ông nhanh chóng khẳng định năng lực, dũng khí và phong cách chỉ huy linh hoạt.
Từ cán bộ trung đội, đại đội, rồi tiểu đoàn, ông từng bước trưởng thành, tham gia nhiều trận đánh quan trọng, góp phần hình thành thế trận chiến tranh nhân dân tại miền Đông Nam Bộ.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Tầm vóc người chỉ huy chiến lược
Với sự nhạy bén quân sự và kinh nghiệm trận mạc, đồng chí Lê Đức Anh được giao nhiều trọng trách lớn ở chiến trường miền Nam.
Ông đảm nhiệm tham mưu, chỉ huy lực lượng chủ lực trong những trận đánh then chốt tại Đông Nam Bộ và là Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam; trực tiếp chỉ đạo tác chiến trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trong trận quyết chiến chiến lược mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu, ông là Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn, góp phần trực tiếp vào Chiến thắng lịch sử ngày 30-4-1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá: Đại tướng Lê Đức Anh là một trong những vị tướng am hiểu sâu sắc chiến trường miền Nam, nắm bắt tốt thế trận, quyết đoán và thận trọng, có khả năng xử trí nhanh và hiệu quả trong những tình huống phức tạp.
Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Sau năm 1975, ông đảm nhiệm những vị trí đặc biệt quan trọng như: Chỉ huy lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia chống tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sary. Từ tháng 5-1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9; đến tháng 6-1978, ông đảm nhiệm Tư lệnh, Chính ủy Quân khu 7, Chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở Mặt trận Tây Nam. Tiếp đó, năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu 7; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban Lãnh đạo Chuyên gia Việt Nam tại Campuchia.
Trên mỗi cương vị và trọng trách được giao, Đại tướng Lê Đức Anh luôn để lại những dấu ấn nổi bật về tư duy chiến lược, sự nhạy bén trước những biến đổi lớn của thời cuộc. Đặc biệt, là Trưởng ban Lãnh đạo Chuyên gia và Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Đại tướng Lê Đức Anh đã có những cống hiến to lớn và hết sức nổi bật, khẳng định phẩm chất nhà quân sự, nhà lãnh đạo dạn dày kinh nghiệm trận mạc, tinh thần quốc tế trong sáng, chiến đấu quả cảm nhưng rất coi trọng giá trị nhân văn và hòa bình. Với ông, giải phóng Campuchia khỏi họa diệt chủng, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước Chùa Tháp không chỉ là nghĩa vụ quốc tế, mà còn là đạo đức của một Quân đội cách mạng luôn coi nhiệm vụ “Giúp nhân dân nước bạn tức là tự mình giúp mình”.
Nhà chiến lược quốc phòng có tầm nhìn sâu rộng và tư duy xây dựng nền quốc phòng toàn dân, hiện đại
Tháng 12-1986, Đại tướng Lê Đức Anh là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ tháng 2-1987 đến 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư Thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương). Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, đặc biệt là những biến động lịch sử của tình hình quốc tế, sự khủng hoảng và tan rã hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu... Đại tướng Lê Đức Anh đã sớm đề xuất những tư duy mang tính nền tảng cho đường lối quân sự, quốc phòng Việt Nam.
Ba dấu ấn nổi bật trong tư duy chiến lược của ông:
Một là, kiên định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, lấy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc làm cốt lõi.
Hai là, phát triển Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, tư duy mà sau này tiếp tục được Đảng phát triển hoàn chỉnh. Gắn với yêu cầu “tinh nhuệ” thời điểm này, đó là cuộc tổng điều chỉnh Quân đội (giảm quân thường trực) và bố trí lại thế trận quốc phòng.
Ba là, kết hợp chặt chẽ kinh tế - quốc phòng, xem đây là mô hình bền vững cho sự phát triển đất nước trong thời bình. Ông cũng là người có nhiều chỉ đạo quan trọng trong việc hiện đại hóa một số lực lượng nòng cốt như: Phòng không - Không quân, Hải quân nhân dân trong giai đoạn đầu đổi mới.
Trách nhiệm, bản lĩnh trên cương vị Chủ tịch nước (1992-1997)
Giai đoạn 1992-1997, trên cương vị là Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có nhiều quyết sách trọng đại, đưa đất nước tiến vào thời kỳ đổi mới toàn diện, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Bản lĩnh đối ngoại nổi bật: Tư duy sắc sảo và bản lĩnh vững vàng của đồng chí thể hiện rõ trong các vấn đề đối ngoại, đặc biệt là bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc (tháng 11-1991), quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (ngày 12-7-1995) và Việt Nam gia nhập ASEAN (ngày 28-7-1995).
Đồng chí luôn kiên định quan điểm: Giữ vững chủ quyền, nhưng kiên trì đối thoại; tăng cường hợp tác quốc tế; chủ động hội nhập vì lợi ích chiến lược của quốc gia.
Nhiều chuyên gia đánh giá, trong giai đoạn này, Chủ tịch nước Lê Đức Anh là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng môi trường hòa bình, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại sau nhiều năm chiến tranh.
Một nhân cách lớn: Giản dị, trách nhiệm và tận tụy
Dù ở bất cứ cương vị nào, từ chiến sĩ, người chỉ huy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hay Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh luôn giữ phong thái khiêm nhường, mực thước, chân tình với đồng chí, đồng đội và nhân dân.
Đồng chí được biết đến là người sống giản dị, tiết kiệm; yêu thương gia đình, đồng chí; tôn trọng nhân dân và cán bộ cấp dưới; không màng danh lợi. Nhiều câu chuyện của đồng đội kể lại: Đại tướng Lê Đức Anh luôn dành sự quan tâm đến thương binh - liệt sĩ, thường xuyên nhắc nhở cấp dưới “một người lính mất đi là một phần Tổ quốc mất đi”. Trong phòng làm việc, đồng chí vẫn giữ thói quen ghi chép cẩn thận và dù tuổi đã cao vẫn đọc rất nhiều tài liệu để nắm tình hình.
Kiên định nhưng mềm dẻo, linh hoạt: Trong công việc, đồng chí có phong cách làm việc chặt chẽ, thận trọng nhưng quyết đoán. Những quyết định của ông ở chiến trường, hoặc trên bàn đàm phán, đều được đánh giá là sâu sắc, tỉnh táo, luôn bám sát thực tiễn và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trước hết và trên hết.
Di sản để lại cho thế hệ hôm nay
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh để lại thế hệ hôm nay và mai sau những di sản vô giá, cần được tiếp tục kế thừa và phát triển:
Một là, tấm gương sáng về lòng yêu nước, nhiệt huyết cách mạng, ý chí chiến đấu kiên cường, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc.
Hai là, tư duy chiến lược về quốc phòng, an ninh, đặc biệt là việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ kinh tế - quốc phòng - đối ngoại.
Ba là, phương châm lãnh đạo nhất quán: “Kiên định mục tiêu chiến lược, linh hoạt trong sách lược; giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc nhưng dung hòa lợi ích, tạo môi trường hòa bình để phát triển đất nước”.
Bốn là, bài học về phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, quyết đoán, bản lĩnh nhưng rất nhân văn; luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trước hết, trên hết.
Những giá trị, phẩm chất cao đẹp trên mang giá trị thời đại sâu sắc, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại, giữ vững chủ quyền và môi trường hòa bình hiện nay.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh - Chiến sĩ cách mạng kiên trung, nhà quân sự tài năng, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng và dân tộc là một minh chứng sống động về phẩm chất của thế hệ đi trước: Trọn đời phấn đấu cho độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển trường tồn của đất nước.
Đại tướng Lê Đức Anh đã về với thế giới người hiền, nhưng những dấu ấn về tư duy quân sự, tầm nhìn chiến lược, nhân cách giản dị và tinh thần phụng hiến gắn liền với hình ảnh Đại tướng - Chủ tịch nước của giai đoạn bản lề đổi mới, mãi là niềm tự hào và nguồn cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam