Đại tướng Lê Văn Dũng và dấu ấn trên những chiến trường ác liệt - Bài 3: Nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất nước Chùa Tháp (tiếp theo và hết)

Đại tướng Lê Văn Dũng và dấu ấn trên những chiến trường ác liệt - Bài 3: Nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất nước Chùa Tháp (tiếp theo và hết)
5 giờ trướcBài gốc
Sau khi Thủ đô Phnom Penh được giải phóng vào tháng 1-1979, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Campuchia ra đời. Tuy nhiên, tàn quân Pol Pot, với sự tiếp sức từ bên ngoài, vẫn chưa từ bỏ âm mưu phản kích. Chúng rút về các vùng rừng núi hiểm trở sát biên giới Thái Lan và trà trộn vào các phum sóc để thực hiện chiến tranh du kích. Ngày 18-2-1979, Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia được ký kết, đánh dấu một bước phát triển vô cùng quan trọng trong quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Trên cơ sở Hiệp ước đó, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia.
Trong bối cảnh đó, đồng chí Lê Văn Dũng trở lại Sư đoàn 9 với cương vị Phó sư đoàn trưởng, đứng chân ở tỉnh Kampong Chhnang và tỉnh Pursat. Sư đoàn trưởng là đồng chí Trần Quang Trung, Chính ủy Sư đoàn Lưu Hồng Nghị. Thay vì ngồi tại sở chỉ huy, với bản tính của một người lính trưởng thành từ thực tiễn, đồng chí Lê Văn Dũng đã chủ động xin về trực tiếp chỉ đạo tại Trung đoàn 1. Đây là quyết định thể hiện tầm nhìn của một người chỉ huy, đó là muốn thắng địch, phải hiểu dân và nắm chắc địa bàn.
Tại đây, đồng chí Lê Văn Dũng nhận ra một vấn đề nổi cộm. Quân đội ta dù chiến đấu dũng cảm nhưng lại gặp rào cản về ngôn ngữ và phong tục. Địch đã lợi dụng điều này để tuyên truyền chia rẽ, khiến người dân e ngại Bộ đội Việt Nam. Đồng chí đã chỉ đạo quyết liệt: “Cán bộ, chiến sĩ phải học tiếng Khơ-me”. Đồng chí chủ trương phối hợp chặt chẽ với bạn để thành lập các đội công tác hỗn hợp. Bằng những việc làm cụ thể của cán bộ, chiến sĩ ta, nhân dân bạn từ chỗ chưa hiểu, e ngại đã dần dần nhận biết sự giúp đỡ của Bộ đội Việt Nam là vô tư, trong sáng, biểu hiện bằng sự tin yêu, đùm bọc, che chở, giúp đỡ tạo điều kiện để bộ đội ta hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều người tự nguyện dẫn đường, chỉ nơi địch ẩn náu của địch để bộ đội ta bắt hoặc chỉ nơi địch cất giấu vũ khí để bộ đội ta thu hồi.
Năm 1987, Đại tướng Lê Văn Dũng, khi đó là Đại tá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 dẫn đầu đoàn Quân tình nguyện Việt Nam lên đường trở về nước năm 1987. Ảnh tư liệu
Năm 1983, tàn quân Pol Pot thay đổi phương thức hoạt động, chuyển sang đánh nhỏ lẻ, tập kích hỏa lực và gài mìn gây tổn thất không nhỏ cho ta. Khi chứng kiến sự lúng túng của một số đơn vị, đồng chí Lê Văn Dũng đã có những nhận định mang tính bước ngoặt về chiến thuật.
Đồng chí thẳng thắn chỉ ra rằng, việc dùng lối đánh chính quy để đánh với quân du kích lẩn khuất như bóng ma là không hiệu quả. Đồng chí trực tiếp xuống Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, gặp gỡ 25 chiến sĩ cốt cán của một trung đội để truyền đạt kinh nghiệm. Đồng chí căn dặn: “Quân địch dùng chiến tranh du kích để đánh mình, trong khi đó mình lại dùng cách đánh chính quy là không ổn. Tôi đề nghị các anh, ta không đánh bao vây, đột phá chính diện như trước, mà bí mật phục kích lại chúng và đón lõng, dùng hỏa lực mạnh đánh, thấy hỏa lực mạnh của ta, nó bỏ chạy thì bộ phận đón lõng diệt”.
Đồng chí Lê Văn Dũng còn động viên: “Từ lũ dù Mỹ 173, đến sư đoàn không vận số 1 Mỹ, ta đều đánh thắng, chẳng lẽ ta chịu thua tàn quân Pol Pot sao?”. Vậy là phương án bí mật phục kích và đón lõng được triển khai. Đồng chí yêu cầu trinh sát tìm ra quy luật di chuyển của địch, sau đó dùng hỏa lực mạnh đánh phủ đầu tại điểm phục kích, đồng thời bố trí lực lượng khóa đuôi để diệt gọn kẻ chạy trốn. Trận đánh tại Đại đội 12, dưới sự chỉ đạo của đồng chí, đã diệt gọn 30 tên địch mà không tốn một giọt máu của chiến sĩ ta. Lối đánh này nhanh chóng trở thành bài học mẫu mực cho toàn Sư đoàn 9, giúp ta chuyển từ thế bị động sang chủ động tấn công, làm phá sản chiến thuật “du kích hóa” của kẻ thù.
Đồng chí Lê Văn Dũng luôn trăn trở một điều: Sự nghiệp cách mạng của Campuchia cuối cùng phải do chính nhân dân bạn đảm nhiệm. Với suy nghĩ ấy, đồng chí không chỉ chú trọng đánh giặc, mà còn dồn lực vào việc xây dựng chính quyền cơ sở và lực lượng vũ trang tại chỗ cho bạn. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí, các đơn vị đã giúp bạn thành lập hơn 60 đội du kích phum, sóc với hàng nghìn người tham gia. Đồng chí trực tiếp chỉ đạo việc huấn luyện quân sự và trang bị vũ khí cho bộ đội địa phương của bạn. Trong thời gian này, đã có 5.090 người tham gia du kích, hàng trăm khẩu súng được bàn giao.
Về mặt đời sống, đồng chí phát động phong trào nhường cơm sẻ áo. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9, dưới sự dẫn dắt của đồng chí, đã trở thành những “kỹ sư nông nghiệp”, giúp dân khai hoang, khôi phục nhà máy điện, máy xay xát và cả các lớp học xóa nạn mù chữ. Chính những hành động vô tư, trong sáng ấy đã làm nên hình ảnh “Bộ đội nhà Phật” trong lòng nhân dân Campuchia.
Đồng chí Lê Văn Dũng (đứng thứ ba, từ trái sang) cùng các cán bộ, chiến sĩ làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Campuchia. Ảnh tư liệu
Năm 1986, sau một thời gian học tập, đồng chí Lê Văn Dũng chính thức đảm nhiệm cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9. Địa bàn hoạt động lúc này là tỉnh Battambang và Banteay Meanchey. Trên địa bàn Sư đoàn đảm nhiệm, lực lượng địch có trên 20 căn cứ lớn nhỏ theo biên giới Campuchia - Thái Lan. Đây chính là những “túi súng”, cửa ngõ mà địch dùng để chuyển quân và vũ khí từ Thái Lan vào nội địa.
Dưới sự chỉ huy của đồng chí, Sư đoàn 9 đã triển khai những chiến dịch tấn công quy mô lớn vào các phân khu 204 (Noong Xa Mát) và 205 (Noong Chan). Đây là những cứ điểm kiên cố của địch với hệ thống phòng thủ đa tầng. Đồng chí Lê Văn Dũng đã áp dụng chiến thuật hiệp đồng binh chủng, đánh nhanh, tiến chắc, tận dụng sơ hở về chiều sâu của địch để tiêu diệt sạch các điểm đề kháng. Kết quả, ta làm chủ hoàn toàn các phân khu, diệt hàng trăm tên địch và thu giữ một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh. Chiến công này không chỉ bẻ gãy hành lang tiếp vận của địch, mà còn tạo thế trận vững chắc cho toàn bộ Mặt trận 479.
Một trong những dấu ấn đậm nét của đồng chí Lê Văn Dũng trong giai đoạn này là việc chỉ đạo xây dựng tuyến phòng thủ biên giới K5. Đây là một công trình rất quan trọng, xây dựng cực kỳ khắc nghiệt. Giữa vùng rừng thiêng nước độc, bộ đội phải đối mặt với nắng cháy mùa khô và bùn lầy mùa mưa. Đồng chí Lê Văn Dũng đã cùng anh em chịu đựng cái đói, cái khát. Có những lúc thiếu nước trầm trọng, đồng chí chỉ đạo vận chuyển hàng triệu lít nước từ hậu phương ra tiền tuyến để nuôi quân. Tinh thần quyết tâm mà đồng chí truyền đạt đã giúp Sư đoàn hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ: Mở 24km đường, đào hào đắp lũy dài 25km, xây dựng 583 hầm chữ A... Tuyến phòng thủ này sau đó đã trở thành “bức tường thép” chặn đứng các đợt xâm nhập của địch, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân bạn.
Tháng 10-1987, sau gần một thập kỷ lăn lộn trên chiến trường, đồng chí Lê Văn Dũng cùng Sư đoàn 9 nhận lệnh rút quân về nước. Ngày chia tay, nhân dân bạn lưu luyến tiễn trong nước mắt. Đồng chí Lê Văn Dũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Quân đội giao phó khi cùng các đơn vị giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng, giúp bạn xây dựng lại chính quyền và bảo vệ vững chắc biên cương.
*) Theo sách: Đại tướng Lê Văn Dũng-“Miền Đông đất lửa” (Hồi ức), NXB Quân đội nhân dân, năm 2012
Nguồn QĐND : https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/dai-tuong-le-van-dung-va-dau-an-tren-nhung-chien-truong-ac-liet-bai-3-nghia-vu-quoc-te-cao-ca-tren-dat-nuoc-chua-thap-tiep-theo-va-het-1021082