Đánh thức 'cánh rừng' dưới mặt nước

Đánh thức 'cánh rừng' dưới mặt nước
một giờ trướcBài gốc
Mỗi buổi sáng sớm, khi mặt đầm phá Tam Giang - Cầu Hai còn phủ sương, những chiếc thuyền đánh cá mang theo những sản vật đầm phá cập bờ. Không ít ngư dân trong đó có thể biết rằng, phần lớn những gì họ đánh bắt được hôm nay bắt đầu vòng đời từ những thảm cỏ biển xanh mướt dưới lòng đầm phá.
Phá Tam Giang - Cầu Hai có diện tích vùng mặt nước rộng gần 22.000ha, trải dài 68km dọc bờ biển TP. Huế là nơi tồn tại của những thảm cỏ biển - “vườn ươm” của nhiều loài thủy sản từ tôm, cua, hải sâm, cầu gai đến những loài cá có giá trị kinh tế cao như cá dìa, nâu, kình..., góp phần duy trì nguồn lợi thủy sản cho hàng chục ngàn ngư dân ven đầm phá.
Không chỉ nuôi sống sinh vật biển, cỏ biển còn bảo vệ vùng đất mà con người đang sinh sống. Bộ rễ bám chặt vào nền đáy giúp giảm năng lượng sóng, chống sạt lở và lưu giữ trầm tích, tạo thành vùng đệm tự nhiên bảo vệ đường bờ trước gió bão. Các thảm cỏ biển còn đóng vai trò như những bẫy trầm tích làm giảm độ đục của nước.
Ngoài ra, thảm có biển còn là một “kho chứa” carbon xanh khổng lồ. Theo thống kê, dù mức độ che phủ chỉ khoảng 0,2% diện tích đáy biển trên toàn thế giới, hệ sinh thái này đóng góp từ 10 - 18% lượng carbon hữu cơ trong hệ sinh thái biển mỗi năm. Khả năng lưu trữ carbon của cỏ biển thậm chí cao hơn 2 - 3 lần so với rừng thường xanh trên cùng đơn vị diện tích, với tốc độ hấp thụ nhanh hơn tới 35 lần so với rừng mưa nhiệt đới. Trong nghiên cứu được công bố vào năm 2024, các nhà khoa học của Viện Tài nguyên và Môi trường biển thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam đã ước tính tổng trữ lượng carbon hữu cơ của các thảm cỏ biển Việt Nam đạt hơn 878.000 tấn, tương ứng khoảng 3,2 triệu tấn CO2 hoặc 3,2 triệu tín chỉ carbon, trị giá hơn 64 triệu USD.
Trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết đạt “phát thải ròng bằng 0” (Net Zero) vào năm 2050, thảm cỏ biển với tiềm năng tạo ra tín chỉ carbon xanh cần được nhìn nhận như một nguồn lực tự nhiên quý giá, chứ không chỉ là một phần phong cảnh dưới mặt nước. Khi thế giới ngày càng quan tâm đến các giải pháp dựa vào thiên nhiên để ứng phó biến đổi khí hậu, những thảm cỏ biển ở Tam Giang - Cầu Hai hoàn toàn có thể trở thành một phần trong chiến lược phát triển kinh tế xanh của địa phương.
Giàu tiềm năng nhưng thảm cỏ biển tại TP. Huế đang có dấu hiệu suy thoái. Theo PGS.TS. Hoàng Công Tín, Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học (ĐH) Khoa học, ĐH Huế, diện tích thảm cỏ biển ở phá Tam Giang - Cầu Hai từng có lúc giảm từ khoảng 2.200ha (năm 1996) xuống còn 1.000ha (năm 2010). “Các nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm diện tích thảm cỏ biển bao gồm phát triển du lịch ven biển thiếu kiểm soát, ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt và nông nghiệp, nạo vét luồng lạch và sự mở rộng của các vùng nuôi trồng hải sản không bền vững”, PGS.TS. Hoàng Công Tín phân tích.
Dù diện tích thảm cỏ biển đã tăng trở lại, đạt mức 2.037ha vào năm 2019, nhưng có một quãng thời gian hệ sinh thái này ít được sự quan tâm, nghiên cứu, do đó không tránh khỏi việc diện tích thảm cỏ biển ở phá Tam Giang - Cầu Hai đang có xu hướng suy giảm. Song song đó, trữ lượng carbon của toàn bộ cỏ biển tại đầm phá đến nay vẫn chưa được định lượng đầy đủ, đồng nghĩa với việc một nguồn lợi kinh tế tiềm năng đang bị bỏ ngỏ.
Nhìn sang các địa phương như TP. Đà Nẵng, Quảng Trị hay Hà Tĩnh, nhiều nơi đã chủ động đánh thức tiềm năng của hệ sinh thái dưới nước bằng việc phục hồi thảm cỏ biển. Tiêu biểu là mô hình tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm với các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt như cấm khai thác, tuần tra cộng đồng và thiết lập vùng lõi. Đồng thời, người dân được hỗ trợ chuyển sang du lịch sinh thái, góp phần phục hồi cỏ biển và thúc đẩy sinh kế. Khi môi trường được cải thiện, cỏ biển dần tự phục hồi, kéo theo sự hồi sinh của hệ sinh thái.
Theo PGS.TS. Hoàng Công Tín, TP. Huế cần xây dựng chiến lược chủ động để bảo tồn thảm cỏ biển. Trước mắt, cần xây dựng bản đồ phân vùng và đánh giá diện tích cỏ biển từng tiểu vùng, làm cơ sở để đưa ra giải pháp bảo tồn đặc thù cho từng khu vực. Đồng thời, cần định lượng tổng trữ lượng carbon lưu trữ trong cỏ biển, mở đường cho việc tiếp cận cơ chế tín chỉ carbon xanh. Tăng cường quan trắc chất lượng nước, kiểm soát các nguồn thải đổ vào đầm phá và xử lý triệt để chất thải nhựa cũng là những việc cần làm ngay. Về lâu dài, việc bảo vệ thảm cỏ biển cần được tích hợp vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển, thay vì chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành môi trường. Mô hình đồng quản lý gắn với chuyển đổi sinh kế ngư dân hoàn toàn có thể áp dụng cho các cộng đồng ven đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, nơi nuôi trồng thủy sản đang thu hút gần 13% tổng lao động địa phương. Khi cộng đồng trở thành người bảo vệ cỏ biển, hệ sinh thái này mới thực sự được bảo tồn bền vững.
Nguồn Thừa Thiên Huế : https://huengaynay.vn/e-magazine/danh-thuc-canh-rung-duoi-mat-nuoc-165511.html