Đào tạo nhân lực 'số' để nông nghiệp ĐBSCL bước vào kỷ nguyên công nghệ cao

Đào tạo nhân lực 'số' để nông nghiệp ĐBSCL bước vào kỷ nguyên công nghệ cao
3 giờ trướcBài gốc
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Lê Văn Vàng, Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp – Đại học Cần Thơ để làm rõ vai trò của giáo dục trong thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao tại khu vực.
- Với tư cách là đơn vị đào tạo hàng đầu, Trường Nông nghiệp đang có những thay đổi đột phá nào trong chương trình giảng dạy để sinh viên không chỉ giỏi về kỹ thuật canh tác mà còn thành thạo các công cụ AI, Drone hay quản trị dữ liệu lớn?
- PGS.TS. Lê Văn Vàng: Chúng tôi xác định rõ rằng, nông nghiệp hiện đại không còn là câu chuyện “kinh nghiệm đồng ruộng” đơn thuần mà đã chuyển sang nền nông nghiệp dựa trên dữ liệu và công nghệ. Vì vậy, chương trình đào tạo của Trường Nông nghiệp đã và đang được tái cấu trúc theo hướng tích hợp đa ngành.
PGS. TS.Lê Văn Vàng, Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp Đại học Cần Thơ
Cụ thể, bên cạnh các học phần truyền thống như thổ nhưỡng, giống cây trồng hay bảo vệ thực vật, chúng tôi đưa vào các nội dung mới như trí tuệ nhân tạo (AI) trong nông nghiệp, phân tích dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ cảm biến, Internet vạn vật (IoT) và ứng dụng thiết bị bay không người lái (drone).
Điểm quan trọng là cách dạy cũng thay đổi. Sinh viên không chỉ học lý thuyết mà được tham gia các “phòng thí nghiệm sống”, mô hình trang trại thông minh, nơi các em trực tiếp vận hành hệ thống tưới tự động, giám sát sâu bệnh bằng AI hay lập bản đồ canh tác bằng drone.
Chúng tôi cũng đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp để sinh viên được tiếp cận công nghệ thực tế ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Mục tiêu là đào tạo ra những “kỹ sư nông nghiệp số” – vừa hiểu đất, hiểu cây, vừa làm chủ công nghệ.
Khách tham quan những cánh đồng mẫu ở Cần Thơ -Ảnh: T.L
- ĐBSCL đang triển khai đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Theo Giáo sư, đâu là những công nghệ cốt lõi mà người nông dân miền Tây cần làm chủ ngay lúc này để mô hình này không chỉ dừng lại ở quy mô thí điểm mà thực sự trở thành một “đại nông trường” kiểu mẫu?
- PGS.TS. Lê Văn Vàng: Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao là một bước đi rất chiến lược, nhưng để thành công thì yếu tố công nghệ phải đi trước một bước.
Theo tôi, có ba nhóm công nghệ cốt lõi mà nông dân cần làm chủ.
Thứ nhất là công nghệ canh tác thông minh, đặc biệt là các quy trình giảm phát thải như tưới ngập – khô xen kẽ (AWD), quản lý dinh dưỡng chính xác và sử dụng giống lúa chất lượng cao, thích ứng biến đổi khí hậu.
Thứ hai là công nghệ số hóa sản xuất. Mỗi thửa ruộng cần được “gắn mã định danh”, có nhật ký điện tử ghi lại toàn bộ quá trình canh tác. Đây là điều kiện tiên quyết để truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.
Thứ ba là cơ giới hóa và tự động hóa, trong đó drone đóng vai trò rất quan trọng trong việc gieo sạ, phun thuốc và giám sát đồng ruộng. Khi áp dụng đồng bộ, chúng ta có thể giảm chi phí, giảm lao động và đặc biệt là giảm phát thải.
Nếu làm tốt ba trụ cột này, mô hình “đại nông trường” không chỉ là khái niệm mà hoàn toàn có thể trở thành hiện thực.
Trường Nông nghiệp Đại học Cần Thơ new
- Theo Giáo sư, đâu là những hạn chế và “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở ĐBSCL?
- PGS.TS. Lê Văn Vàng: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu công nghệ, mà là thiếu con người có khả năng vận hành công nghệ.
Phần lớn nông dân của chúng ta vẫn quen với phương thức sản xuất truyền thống, trong khi các công nghệ mới lại đòi hỏi kỹ năng số nhất định. Điều này tạo ra một “khoảng cách chuyển đổi” khá lớn.
Bên cạnh đó, quy mô sản xuất còn manh mún, khó áp dụng đồng bộ công nghệ. Hạ tầng số ở nông thôn, như kết nối internet hay hệ thống dữ liệu dùng chung, cũng chưa thực sự hoàn thiện.
Một điểm nghẽn khác là sự liên kết giữa “4 nhà” – nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp và Nhà nước – chưa chặt chẽ. Công nghệ có thể có, nhưng nếu thiếu doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và thiếu cơ chế chính sách hỗ trợ thì rất khó nhân rộng.
Do đó, giải pháp không chỉ nằm ở kỹ thuật, mà còn ở đào tạo, tổ chức sản xuất và thể chế.
Cơ giới hóa trên những cánh đồng ở ĐBSCL - Ảnh: Trung Chánh
- Hiện nay, khái niệm “bán tín chỉ carbon” đang mở ra một nguồn thu mới đầy triển vọng cho nông sản Việt. Giáo sư đánh giá thế nào về khả năng hiện thực hóa tiềm năng này tại khu vực phía Nam, và công nghệ đóng vai trò “chìa khóa” như thế nào trong việc định lượng mức giảm phát thải để đạt được các chứng nhận quốc tế?
- PGS.TS. Lê Văn Vàng: Tín chỉ carbon là một cơ hội rất lớn, đặc biệt đối với những vùng sản xuất quy mô lớn như ĐBSCL. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực thì không hề đơn giản.
Điều kiện tiên quyết là chúng ta phải đo lường, báo cáo và thẩm định được lượng phát thải giảm đi. Đây chính là nơi công nghệ đóng vai trò “chìa khóa”.
Các công nghệ như cảm biến môi trường, vệ tinh, hệ thống dữ liệu lớn và AI sẽ giúp theo dõi chính xác lượng nước sử dụng, lượng phân bón, khí phát thải như methane trong quá trình canh tác lúa.
Khi có dữ liệu minh bạch và đạt chuẩn quốc tế, chúng ta mới có thể tham gia thị trường tín chỉ carbon toàn cầu.
Ngoài ra, cần có các tổ chức trung gian đủ năng lực để xác nhận và kết nối với thị trường quốc tế. Vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng khung pháp lý cũng rất quan trọng.
Tôi tin rằng, nếu kết hợp tốt giữa công nghệ, chính sách và đào tạo nguồn nhân lực, thì trong tương lai gần, nông dân ĐBSCL không chỉ bán lúa mà còn có thể “bán cả giá trị xanh” từ chính cánh đồng của mình.
Văn Kim Khanh
Nguồn Một Thế Giới : https://1thegioi.vn/dao-tao-nhan-luc-so-de-nong-nghiep-dbscl-buoc-vao-ky-nguyen-cong-nghe-cao-249650.html