Giao dịch mua bán nhằm hợp thức hóa việc mua chung
Theo trình bày của bà M. (ngụ TPHCM), năm 2008, bà và vợ chồng ông H. cùng góp vốn mua một căn hộ tại TPHCM với giá 47 lượng vàng SJC. Hai bên thống nhất mỗi bên góp 50%, tương đương 23,5 lượng vàng.
Dù cùng góp vốn, bà M. đồng ý để vợ chồng ông H. đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu (sổ hồng). Hai bên thỏa thuận khi bán căn hộ sẽ chia đôi số tiền thu được.
Đến năm 2009, các bên tiếp tục ký hợp đồng mua bán liên quan đến chính căn hộ này. Nội dung thể hiện vợ chồng ông H. bán cho bà M. phần diện tích phía trước căn hộ với giá 23,5 lượng vàng SJC – tương đương 50% giá trị căn hộ.
Theo đó, bà M. đặt cọc 5 lượng vàng, số còn lại 18,5 lượng sẽ thanh toán khi hoàn tất thủ tục công chứng. Hợp đồng quy định, nếu bên bán đổi ý không bán phải bồi thường gấp đôi tiền cọc; nếu bên mua không tiếp tục giao dịch sẽ mất tiền đặt cọc.
Ảnh minh họa: Anh Phương
Sau khi nhận 5 lượng vàng, ông H. ký xác nhận và cam kết thực hiện thủ tục công chứng. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng không được tiến hành. Bà M. cho rằng mình nhiều lần yêu cầu nhưng vợ chồng ông H. không hợp tác nên đã khởi kiện vào năm 2009. Quá trình tố tụng sau đó bị đình chỉ do bà M. phải điều trị bệnh kéo dài.
Năm 2020, bà M. tiếp tục khởi kiện, yêu cầu trả lại 5 lượng vàng đặt cọc và phạt cọc thêm 5 lượng. Sau đó, bà khởi kiện bổ sung, đề nghị công nhận mình là đồng sở hữu căn hộ và được cập nhật tên trên sổ hồng.
Ở chiều ngược lại, vợ chồng ông H. thừa nhận việc góp vốn theo tỷ lệ 50-50 và đồng ý công nhận đồng sở hữu. Tuy nhiên, họ không chấp nhận yêu cầu trả tiền cọc và phạt cọc, cho rằng lỗi khiến giao dịch không hoàn tất thuộc về bà M.
Đồng thời, vợ chồng ông H. phản tố, yêu cầu được quản lý phần diện tích phía trước căn hộ tương ứng với phần vốn góp.
Buộc hoàn trả 5 lượng vàng theo giá hiện tại
Tại bản án sơ thẩm ngày 23/6/2025, TAND quận 1 (nay là TAND khu vực 1 – TPHCM) chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, công nhận bà M. là đồng sở hữu căn hộ cùng vợ chồng ông H.
Về tài chính, tòa buộc vợ chồng ông H. hoàn trả cho bà M. số tiền tương đương 5 lượng vàng SJC, quy đổi theo giá tại thời điểm xét xử gần 600 triệu đồng. Tuy nhiên, tòa không chấp nhận yêu cầu phạt cọc 5 lượng vàng còn lại.
Đối với yêu cầu phản tố, tòa xác định các bên là đồng chủ sở hữu và có quyền quản lý, sử dụng chung căn hộ theo hiện trạng, không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nhau.
Không đồng ý, ông H. kháng cáo một phần bản án, đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu của bà M. liên quan đến tiền đặt cọc, cho rằng bà phải chịu mất 5 lượng vàng do có lỗi làm giao dịch không thành.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND TPHCM nhận định hợp đồng mua bán căn hộ năm 2009 giữa hai bên chỉ là giấy viết tay, chưa được công chứng nên chưa làm phát sinh hiệu lực chuyển nhượng. Tuy nhiên, thỏa thuận đặt cọc 5 lượng vàng SJC vẫn có giá trị pháp lý độc lập nhằm bảo đảm việc giao kết hợp đồng trong tương lai.
Về lỗi dẫn đến việc không công chứng được hợp đồng, cả hai bên đều cho rằng đối phương vi phạm nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Hợp đồng cũng không quy định thời hạn cụ thể phải thực hiện công chứng.
Vì vậy, tòa xác định các bên đều có lỗi tương đương trong việc giao dịch không thực hiện được. Do lỗi không hoàn toàn thuộc về một bên nên không thể áp dụng điều khoản phạt cọc.
Từ đó, TAND TPHCM bác toàn bộ kháng cáo, buộc vợ chồng ông H. hoàn trả 5 lượng vàng cho bà M. theo mức quy đổi tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Anh Phương