Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, nghè làng Yên Nam, xã Quảng Ninh.
Làng Yên Nam, thời Hậu Lê gọi là xứ Sài Hoàng thuộc làng Thủ Phú, xã Phú Xá. Lịch sử làng ghi lại, cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI có một tộc họ Viên Đình ly hương dời tổ đã đến đây lập cư khai canh. Sau này, các dòng họ: Lê Văn, Lê Ngọc, Trần Văn, Nguyễn Xuân, Phạm Văn, Nguyễn Bá, Nguyễn Văn... đã tụ nhau về lập nghiệp thành một vùng dân cư đông đúc.
Cũng bởi đây là vùng ven biển nên nghề nghiệp sinh sống chính của cư dân trong làng là khai thác hải sản. Sách “Le Thanh Hoa” (tỉnh Thanh Hóa) của Charles Robequain có viết về nghề đánh bắt cá biển, nghề bán lộng, bán khơi, giã moi, giã tôm... của địa phương với phương tiện chủ yếu là thuyền mảng. Nhà nghiên cứu người Pháp này cũng đã đưa ra con số cụ thể: “Khoảng năm 1930-1940, làng có 6 thuyền và 70 mảng". Đặc biệt, làng còn có nghề đóng cối xay lúa. Với tay nghề khéo, tính tình lại dễ chịu, người khắp các vùng đồng đều yêu thích cối xay: “Ai về Thủ Phú biết không/ Có anh phó cối, có ông thợ vồ”. Những nghề truyền thống ít nhiều cũng đã tạo công ăn việc làm, dẫu người dân xưa bữa đói bữa no phụ thuộc hết vào thiên nhiên, thời tiết.
Nói về niềm tự hào của người làng, theo ông trưởng thôn Trần Văn Hưng đó chính là truyền thống yêu nước. “Làng tôi, xưa có bến Cổ Bút. Từ cuối thế kỷ XIII, tướng giặc Nguyên – Mông là Toa Đô tiến theo đường biển đánh vào đây. Bấy giờ có ông Lê Mạnh, người đã tổ chức dân binh, đốc thúc mọi người trong hương, trong làng ra phòng ngự ở bến. Những trận đánh này đã được lưu danh qua câu đối chữ Hán trong đền Cổ Bút xưa kia: "Đoạt giáo Cổ Khê thù khiếp đảm/ Lưu danh Cổ Bút địa anh hùng”. Năm 1950 đền bị phá, nhưng truyền thống yêu nước thì đã ăn sâu vào máu thịt người dân. Vì thế, mà qua các cuộc kháng chiến, các phong trào đấu tranh yêu nước, người dân làng Yên Nam luôn xung phong đi đầu". Với quá trình tụ cư vận động liên tục hàng trăm năm qua, mỗi một địa danh nơi đây thấm đẫm biết bao mồ hôi, công sức thậm chí cả máu và nước mắt của các thế hệ cư dân trong cuộc đấu tranh giữa con người với tự nhiên, cũng như trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm và đấu tranh xã hội để tồn tại và phát triển.
Về thôn 8, xã Quảng Ninh, chúng tôi được trưởng thôn dẫn vào nghè làng, nơi thờ Đông Hải đại vương Nguyễn Phục - một nhà khoa bảng, một công thần tiết nghĩa thời Lê (thế kỷ XV). Ông là người đức độ, dám chịu tội trước hành động của mình. Tài liệu của làng ghi chép: Khi vua Lê Thánh Tông đem quân đi đánh dẹp Chiêm Thành, Nguyễn Phục giữ chức Đô chỉ huy sứ đốc vận chuyển quân nhu. Khi xuất phát đi tiếp tế quân lương gặp bão lớn ở cửa Lạch Trào (cửa Hới) Thanh Hóa, ông quyết định chờ tan bão mới đi, thuyền quân lương bị chậm vài ngày. Quân luật khép ông vào tội “Bất tuân quân lệnh”, xử tội chém.
Sách “Thần tích Việt Nam” ghi: “Sau khi chiến thắng giặc Chiêm Thành trở về ngang cửa Thần Phù, gặp sóng to, gió lớn, biển động dữ dội khiến cho đoàn thuyền của nhà vua không thể qua được. Vua sực nhớ đoàn thuyền lương trễ hạn cũng là do sóng lớn gây ra. Trong lòng hối hận thương quan đốc lương bị thác oan... Trong lúc mơ màng, vua thấy ông nhung trang chỉnh tề đứng trước giường ngự tâu rằng: “Kẻ hạ thần cảm ơn tri ngộ của bệ hạ nên dẫu thác linh hồn vẫn theo ra chiến trận, nay nhờ hồng phúc quốc gia, bệ hạ dẹp xong Chiêm hầu, hạ thần lại xin hộ giá khải hoàn”.
Một góc làng Yên Nam (thôn 8, xã Quảng Ninh).
Vua Lê chợt tỉnh, vừng đông hửng sáng, trông ra biển lặng sóng êm. Đại quân vượt biển trở về yên ổn. Ngay sau đó, vua đã truy phong Đốc lương quan Nguyễn Phục tước “Đại vương biển Đông Hải”, lại hạ chiếu truyền cho thiên hạ, địa phương nơi nào ngày trước có nhà cửa của Phụ Công tại các làng xóm, thì cho dân rước sắc về lập đình thờ”. Tưởng nhớ công lao của ông, Nhân dân các vùng ven biển dọc miền Trung đã xin rước sắc, lập đình thờ tôn ông làm Thành hoàng. Chỉ tính từ Đà Nẵng trở ra có tới 72 đền thờ Nguyễn Phục. Riêng ở Thanh Hóa, nhiều địa phương ven biển xem ông là vị phúc thần phù hộ cho ngư dân vì thế đã lập đền thờ cúng.
Nằm trên không gian rộng, hướng ra phía biển, nghè làng Yên Nam xưa là ngôi nhà lá đơn sơ, đồ thờ cúng cũng vô cùng đơn giản. Sau này đã được tôn tạo thành ngôi nhà gỗ 5 gian với khuôn viên cây xanh, có các tượng đá hình hổ chầu, voi phục, đồ thờ cúng gồm bài vị, long ngai, chuông đồng, kiệu và nhiều sắc phong. Năm 1965, do chiến tranh, nghè bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1995, thể theo nguyện vọng tâm linh của bà con, được phép của chính quyền, Nhân dân đã đóng góp tiền của xây dựng nghè kiên cố hơn.
13 năm sau ngày được công nhận di tích cấp tỉnh, nghè ngày càng xuống cấp trầm trọng. Chia sẻ với chúng tôi, ông Viên Đình Mơ, trông coi nghè cho biết: "Người làng Yên Nam rất tự hào vì vẫn giữ được nếp nghè. Ngày lễ tết, húy nhật, tế lễ thành hoàng làng, các vị thánh, các vị tổ các tộc họ, các liệt sĩ con em trong làng đã hy sinh vì Tổ quốc... đều được tổ chức tại nghè. Ngoài ra, vào ngày rằm tháng 2 âm lịch, lễ hội cầu ngư cũng diễn ra ngay gần khu đất nghè làng với sự tham gia của bà con trong thôn và các địa phương lân cận. Vì thế chúng tôi rất cần một không gian sinh hoạt văn hóa an toàn và sạch đẹp".
Bài và ảnh: Chi Anh