Nội điện Thái Hòa. Ảnh: Hữu Thọ
Ngày đó kinh phí hạn chế nên chỉ thay mấy cái cột đã bị tiêu tâm, có nguy cơ sụp đổ, trong đó có cột nhất Tả, bên trái Bửu Tán. Phải nói đội ngũ thợ mộc lúc đó rất lành nghề, am hiểu sâu về mẹo, mực của nghề mộc cổ truyền. Quá trình giám sát, trong những lúc trà dư tửu hậu thì phát hiện có những vấn đề đáng suy ngẫm mà cho đến bây giờ chưa tìm thấy tài liệu nào đề cập. Đã gần 35 năm rồi, những người thợ mộc ngày xưa nay không biết ai còn, ai mất, nhưng những băn khoăn ngày xưa vẫn nhớ như in. Vì vậy, viết ra để các nhà sử học, các nhà am hiểu về Kinh dịch có điều kiện nghiên cứu để làm sáng tỏ thêm.
Kinh dịch có nói rằng: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”. Tương ứng với điều này khi xem các công trình điện Thái Hòa, Triệu Miếu, Thế Miếu... thấy các đòn tay đỡ mái thì đòn đôn (có nơi gọi là đông hoặc đòn dông) ở vị trí cao nhất, khoảng giữa đòn đôn và cột hàng nhất chỉ có hai đòn tay, khoảng giữa cột hàng nhất và cột hàng nhì chỉ có bốn đòn tay. Tại sao không phải là ba, là năm hay ít hơn hoặc nhiều hơn mà chỉ có hai, có bốn đòn tay. Phải chăng các kiến trúc sư, các người thợ cả dưới Triều Nguyễn đã áp dụng triết lý Kinh dịch vào việc xây dựng?. Đòn đôn luôn có vai trò quan trọng nhất trong ngôi nhà, nếu xem đòn đôn là thái cực thì thái cực sinh lưỡng nghi là hai đòn tay nằm giữa đòn đôn và cột hàng nhất; lưỡng nghi sinh tứ tượng là bốn đòn tay nằm giữa cột hàng nhất và cột hàng nhì.
Du khách tham quan Đại Nội tết Nguyên đán. Ảnh: Anh Lê
Vậy còn bát quái ở đâu? Ở điện Thái Hòa do mở rộng không gian bằng trần thừa lưu và hai mái nối với trần thừa lưu không làm cổ lầu nên không có đủ tám mái. Trong trường hợp này chỉ có Nghinh Lương Đình, Tả Vu, Hữu Vu, Thái Miếu… (chỉ mới khảo sát quanh Đại Nội) là có khả năng đúng với triết lý của Kinh dịch. Tứ tượng sinh ra bát quái là hệ mái gồm hai mái, hai chái hai đầu, dật cấp xuống cổ lầu thêm bốn mái nữa thành ra tám mái tương ứng với bát quái. Vấn đề này, kiến trúc Việt Nam cũng ghi nhận “lầu tám mái không cong lên ở các góc là hình thức mới của kiến trúc” do nhà Nguyễn xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XIX.
“Cung điện Huế và đền miếu đều làm theo kiểu nhà kép, gọi là trùng thiềm điệp ốc, nhà trước và nhà sau liên kết lại bằng trần thừa lưu”. Như vậy, trần thừa lưu nối liền tiền điện, hậu điện và được đỡ bằng 5 đòn tay, có nghĩa là trần thừa lưu làm chức năng phát triển không gian. Ở đây có vấn đề là tại sao trần thừa lưu lại được đỡ bằng 5 đòn tay mà lại không nhiều hơn hay ít hơn? Phải chăng là thuận theo quy luật vạn vật phát triển trên cơ sở ngũ hành - “năm loại nguyên tố cấu tạo ra vạn vật hữu hình kim, mộc, thủy, hỏa, thổ”.
Căn cứ vào những khảo sát trên thì bộ mái và cách chia, cách đặt các đòn tay, các dầm đỡ có thể tương ứng với triết lý của Kinh dịch. “Dịch hữu thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh ngũ hành - năm loại nguyên tố cấu tạo ra vạn vật hữu hình kim, mộc, thủy, hỏa, thổ”. (Trích trong Nguyên lý âm dương ngũ hành).
Thiết nghĩ không phải lĩnh vực mình am hiểu và không có điều kiện để nghiên cứu nhưng quan sát trực quan thì lại thấy có những sự trùng hợp, mặc dầu chưa tuyệt đối đúng hoàn toàn nhưng lại có những sự lý giải tương đối hợp lý,... nên vẫn mãi cứ những băn khoăn, trăn trở. Tôi tìm kiếm trong các tài liệu như: Điện Thái Hòa, kiến trúc Cố đô Huế, nhà rường Huế... đều không thấy đề cập. Vì vậy, với tâm tư thực sự cầu thị xin mạnh dạn nêu lên để các nhà khoa học nghiên cứu thêm với hy vọng có những đúc kết nhằm góp phần bổ sung giá trị cho Quần thể di tích Cố đô Huế.
Nguyễn Hữu Thọ