Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ

Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ
2 giờ trướcBài gốc
Gian hàng giới thiệu sản phẩm từ cây sâm Báo của HTX Dược liệu Xứ Thanh (xã Tân Ninh) góp phần quảng bá, thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn.
Trong chiến lược phát triển dài hạn, Thanh Hóa luôn xác định KH&CN là khâu đột phá. Các nghị quyết lớn của Trung ương và của tỉnh đã tạo hành lang pháp lý, định hướng rõ ràng cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN. Trên nền tảng đó, giai đoạn 2010-2025, toàn tỉnh đã triển khai hơn 400 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, nhiều đề tài, dự án sau nghiệm thu đã được đưa vào thực tiễn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét.
Nổi bật trước hết là các nhiệm vụ trong lĩnh vực nông nghiệp - lĩnh vực giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế tỉnh. Đề tài nghiên cứu, lai tạo và phát triển giống ngô lai QT55 là minh chứng tiêu biểu cho hướng đi đúng đắn khi gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất. Việc xây dựng thành công các quy trình sản xuất hạt lai, quy trình thâm canh phù hợp với nhiều vùng sinh thái cùng hệ thống mô hình sản xuất thử nghiệm đã giúp giống QT55 đạt năng suất vượt trội so với giống đối chứng, được công nhận lưu hành và bảo hộ quyền tác giả. Đây không chỉ là thành quả khoa học mà còn mở ra cơ hội chủ động nguồn giống, giảm phụ thuộc vào thị trường bên ngoài.
Song song với đó, các nghiên cứu về giống lúa thích ứng biến đổi khí hậu đã kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc tuyển chọn thành công các giống lúa chịu ngập úng như SHPT2, U1016 hay các giống lúa thuần Hương Thanh 8, Hương Thanh 10 có năng suất, chất lượng cao đã góp phần quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Các quy trình kỹ thuật được hoàn thiện, mô hình trình diễn được triển khai tại nhiều địa phương giúp người dân dễ tiếp cận, từng bước thay đổi tập quán canh tác, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Không chỉ dừng lại ở trồng trọt, các đề tài về cây dược liệu và cây trồng mới cũng cho thấy hướng tiếp cận đa dạng của hoạt động KH&CN. Nghiên cứu về cây sâm Báo đã xác định được thành phần hoạt chất, xây dựng quy trình chiết xuất và bào chế thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mở ra tiềm năng phát triển sản phẩm giá trị gia tăng từ nguồn dược liệu bản địa. Trong khi đó, mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ cây sachi với giống S18 thích nghi rộng, năng suất ổn định đã chứng minh hiệu quả của việc gắn nghiên cứu khoa học với tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.
Đáng chú ý, các nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học từ nấm đối kháng, nấm ký sinh đã tạo ra những sản phẩm thân thiện với môi trường, góp phần giảm dần việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp. Việc ứng dụng các chế phẩm này vào sản xuất rau, cây dược liệu không chỉ nâng cao chất lượng nông sản mà còn hướng tới nền nông nghiệp an toàn, bền vững.
Từ thực tiễn triển khai trong nhiều năm qua, có thể khẳng định, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến rõ nét cả về tư duy và cách làm. Các nhiệm vụ KH&CN ngày càng được định hướng sát hơn với yêu cầu của sản xuất và đời sống, từng bước khắc phục tình trạng nghiên cứu xa rời thực tiễn. Nhiều kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu đã được đưa vào ứng dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống người dân, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN trên địa bàn tỉnh vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Công tác tuyên truyền, phổ biến kết quả nghiên cứu còn hạn chế, chưa thực sự tạo được sự lan tỏa đến doanh nghiệp, HTX và người dân. Một số kết quả nghiên cứu chưa có tính đột phá cao, quy mô ứng dụng còn nhỏ lẻ, hiệu quả kinh tế chưa đủ sức thuyết phục để thu hút đầu tư xã hội. Nguồn nhân lực khoa học trình độ cao còn thiếu; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và ứng dụng chưa đáp ứng yêu cầu. Đặc biệt, sự liên kết giữa cơ quan nghiên cứu với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong tiếp nhận và thương mại hóa kết quả KH&CN vẫn chưa chặt chẽ, khiến nhiều tiến bộ kỹ thuật chậm đi vào đời sống.
Từ thực tiễn đó, việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp được xác định là yêu cầu cấp thiết để KH&CN thực sự trở thành động lực phát triển. Trước hết, cần đổi mới mạnh mẽ công tác thông tin, tuyên truyền theo hướng dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn; tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, truyền thông số để giới thiệu kịp thời các kết quả nghiên cứu, mô hình hiệu quả. Việc tổ chức các phong trào thi đua, tôn vinh điển hình ứng dụng KH&CN thành công sẽ góp phần tạo niềm tin, khuyến khích doanh nghiệp và người dân mạnh dạn đầu tư, đổi mới phương thức sản xuất.
Cùng với đó, tỉnh tập trung tạo bước chuyển biến rõ nét trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN, ưu tiên các lĩnh vực có lợi thế như giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông minh, chế biến và bảo quản nông sản. Việc nhân rộng các mô hình sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ trong nước và quốc tế, không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn mở rộng dư địa thị trường tiêu thụ, hướng tới xuất khẩu bền vững.
Chuyển đổi số được xác định là giải pháp xuyên suốt, từ sản xuất đến quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Việc đầu tư hạ tầng số, xây dựng mã vùng trồng, vùng nuôi, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vùng sản xuất sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu của các thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời, đổi mới tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp, HTX và người dân được xem là “chìa khóa” để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn một cách bền vững.
Cùng với phát triển thị trường, đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng thương hiệu sản phẩm cũng cần được triển khai đồng bộ. Đặc biệt, việc thực hiện thí điểm các cơ chế, chính sách đặc biệt trong quản lý nhiệm vụ KH&CN theo hướng “quản lý theo kết quả” sẽ góp phần tháo gỡ rào cản hành chính, tạo môi trường thuận lợi hơn cho sáng tạo khoa học và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.
Việc nhận diện đúng khó khăn và kiên trì triển khai các giải pháp mang tính căn cơ, đồng bộ sẽ giúp KH&CN từng bước thâm nhập sâu hơn vào sản xuất và đời sống. Khi nghiên cứu gắn chặt với nhu cầu thị trường, khi doanh nghiệp và người dân trở thành trung tâm của quá trình ứng dụng, KH&CN sẽ không còn dừng lại ở phòng thí nghiệm, mà thực sự trở thành lực đẩy quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới.
Bài và ảnh: Trần Hằng
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/day-manh-nghien-cuu-ung-dung-chuyen-giao-khoa-hoc-va-cong-nghe-276578.htm