Ảnh minh họa
Kế hoạch nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, với nguyên tắc xuyên suốt "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Qua đó, nâng cao tính chủ động, kỷ luật và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.
Đồng thời, Kế hoạch hướng tới bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong nhận thức và hành động từ Trung ương đến địa phương; giữa các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp trong xây dựng thương hiệu quốc gia và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Việc triển khai cũng gắn với phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, huy động tối đa nguồn lực xã hội, khai thác giá trị văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia, qua đó nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh Việt Nam, đồng thời thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo tinh thần các nghị quyết của Trung ương và Chính phủ.
Kế hoạch tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất nhận thức và hành động về vai trò của truyền thông đối ngoại. Nội dung Chiến lược sẽ được phổ biến rộng rãi thông qua các hội nghị, hội thảo, tọa đàm tới các bộ, ngành, địa phương, cơ quan báo chí, doanh nghiệp, người dân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ hai, xây dựng nội dung và thông điệp truyền thông dựa trên các giá trị cốt lõi của Việt Nam: Nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc; con người yêu nước, thân thiện, sáng tạo; đất nước ổn định, phát triển năng động và hội nhập sâu rộng. Trên cơ sở đó, hình thành bộ thông điệp quốc gia phù hợp từng giai đoạn, thị trường và nhóm công chúng. Đồng thời, xây dựng và số hóa "Ngân hàng câu chuyện Việt Nam" dưới dạng dữ liệu metadata nhằm tối ưu khả năng khai thác, tìm kiếm và tái sử dụng.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái truyền thông số toàn diện, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất và phân phối nội dung; xây dựng hệ sinh thái nội dung đa ngôn ngữ trên các nền tảng xuyên biên giới. Tổ chức các chiến dịch truyền thông quốc gia gắn với quảng bá văn hóa, du lịch, di sản và các sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa; tăng cường hợp tác với các cơ quan báo chí, đối tác truyền thông quốc tế, chuyên gia, kiều bào và KOLs. Đồng thời, hình thành mạng lưới truyền thông đối ngoại thống nhất, hiện đại, có khả năng phản ứng nhanh và lan tỏa rộng trên phạm vi toàn cầu.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, liên cấp và huy động nguồn lực xã hội. Kế hoạch chú trọng xây dựng quy chế phối hợp giữa các đơn vị, hướng dẫn địa phương xây dựng chiến lược truyền thông phù hợp với bản sắc vùng miền nhưng vẫn thống nhất với thông điệp quốc gia; đồng thời thúc đẩy hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực truyền thông với trọng tâm là đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông quốc tế, truyền thông số và đa ngôn ngữ cho đội ngũ cán bộ. Đồng thời, huy động các tổ chức, cá nhân có năng lực sản xuất nội dung chất lượng cao tham gia công tác quảng bá.
Thứ sáu, thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá và điều chỉnh linh hoạt thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đối ngoại quốc gia; ban hành hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả truyền thông và bộ tiêu chí đánh giá thương hiệu địa phương; ứng dụng các phương pháp phân tích dữ liệu hiện đại để đo lường mức độ lan tỏa và cảm nhận của công chúng. Việc đánh giá, xếp hạng kết quả sẽ được thực hiện định kỳ hằng năm, gắn với sơ kết, tổng kết và nhân rộng các mô hình hiệu quả.
PV