Đề xuất Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt tiền đến 250 triệu đồng với vi phạm hành chính về đất đai

Đề xuất Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt tiền đến 250 triệu đồng với vi phạm hành chính về đất đai
2 giờ trướcBài gốc
Gần 9.000 vụ vi phạm bị xử lý
Đánh giá một năm thi hành Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, các địa phương đã phát hiện, phối hợp xử lý vi phạm hành chính 8.951 vụ việc trong lĩnh vực đất đai, tổng số tiền đã xử phạt là hơn 146,9 tỷ đồng. Các hành vi bị xử phạt chủ yếu tập là: Sử dụng đất sai mục đích, lấn đất, chiếm đất, không đăng ký đất đai, chậm đăng ký biến động đất đai, hủy hoại đất…
Dẫu vậy, các địa phương cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình tiến hành xử lý vi phạm. Theo đó, việc xác định thời điểm vi phạm, thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm còn gặp khó khăn, đặc biệt là đối với các hành vi vi phạm liên quan đến giao dịch dân sự về đất đai hoặc hành vi cung cấp thông tin sai lệch, ảnh hưởng đến việc áp dụng hình thức xử phạt và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
Việc xác định diện tích vi phạm, tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, nhất là đối với các vi phạm xảy ra từ nhiều năm trước gặp nhiều khó khăn, do hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, bản đồ qua các thời kỳ có biến động. Đối với các trường hợp vi phạm xảy ra trước ngày 15-10-1993, người sử dụng đất sau khi có hành vi vi phạm đã chuyển nhượng trao tay cho người khác, dẫn đến khó khăn trong việc xác định đối tượng có hành vi vi phạm. Việc xử lý đối với người đang sử dụng đất vi phạm khó khả thi, là nguyên nhân dẫn đến các khiếu kiện kéo dài.
Việc tính toán số lợi bất hợp pháp thu được gặp nhiều vướng mắc, do không xác định chính xác thời điểm vi phạm (nhiều trường hợp chỉ xác định được năm, không xác định được ngày, tháng) hoặc do quy định chồng chéo, mâu thuẫn.
Ngoài ra, một số trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm chuyển quyền, gây khó khăn trong việc xác định chủ thể bị lập biên bản, ban hành quyết định xử phạt hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; công tác tổ chức cưỡng chế đòi hỏi nhiều nhân lực, thời gian, kinh phí, trong khi nguồn lực cấp cơ sở còn hạn chế. Trên thực tế, có nhiều trường hợp ngân sách nhà nước phải chi trả chi phí cưỡng chế nhưng không thu hồi được từ người vi phạm; một số trường hợp không hợp tác, gây cản trở, không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, biện pháp xử lý theo quy định thấp.
Đối với hành vi lấn đất hoặc chiếm đất, Nghị định số 123/2024/NĐ-CP chưa quy định, giải thích cụ thể một số khái niệm như “lấn đất”, “chiếm đất”… dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương, đơn vị, tiềm ẩn nguy cơ áp dụng không đúng quy định pháp luật…
Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
Những đề xuất sửa đổi, bổ sung đáng chú ý
Xuất phát từ những vấn đề trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP. Nội dung bổ sung này quy định về nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, cụ thể như sau:
1. Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của người sử dụng đất và tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai phải được quy định trong Luật Đất đai và quy định tại Nghị định này.
2. Việc xác định hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phải được cơ quan, người có thẩm quyền xác định và theo trình tự, thủ tục quy định tại pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về đất đai và tại Nghị định này.
3. Đối với đơn vị hành chính đặc khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở phường, thì áp dụng mức xử phạt như phường; đối với đơn vị hành chính đặc khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã, thì áp dụng mức xử phạt như xã.
4. Vợ và chồng, nhiều người có chung quyền sử dụng đất, thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân, trừ trường hợp các thành viên sử dụng chung quyền sử dụng đất cùng thực hiện hành vi vi phạm.
Lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra là quy định hiện hành chưa quy định rõ đối tượng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; căn cứ xác định một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; xử phạt đối với trường hợp chung quyền sử dụng đất mà vi phạm pháp luật đất đai dẫn đến khó khăn trong việc xác định đối tượng, hành vi vi phạm và trách nhiệm khi phát hiện hành vi.
Vì vậy, bổ sung Điều 3a là nhằm tránh tình trạng hiểu không thống nhất dẫn đến tùy tiện khi xác định, đùn đẩy, từ chối tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính; bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, Dự thảo Nghị định đề xuất bổ sung các điểm p, q và r vào sau điểm o khoản 3 Điều 4 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP nhằm bảo đảm thống nhất giữa các điều tại nghị định, cụ thể:
p) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
q) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc địa giới đơn vị hành chính;
r) Buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai.
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2024/NĐ-CP cũng đề xuất tăng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã. Cụ thể Chủ tịch UBND cấp xã có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 250.000.000 đồng;
c) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất;
d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề (nếu có) hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này.
Nguồn QĐND : https://www.qdnd.vn/xa-hoi/tin-tuc/de-xuat-chu-tich-ubnd-cap-xa-co-quyen-phat-tien-den-250-trieu-dong-voi-vi-pham-hanh-chinh-ve-dat-dai-1030052