Ảnh minh họa.
Cụ thể về điều kiện hành nghề kiến trúc, theo quy định tại Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 hiện hành (Điều 21. Điều kiện hành nghề kiến trúc), cá nhân đảm nhận chức danh chủ trì thiết kế kiến trúc, cá nhân chịu trách nhiệm chuyên môn về kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân phải có chứng chỉ hành nghề kiến trúc, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này (Hành nghề kiến trúc của người nước ngoài tại Việt Nam);
Cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân.
Tuy nhiên, tại dự thảo, Bộ Xây dựng đề xuất sửa đổi quy định Điều kiện hành nghề kiến trúc thành quy định về Điều kiện, năng lực hành nghề kiến trúc.
Cụ thể, cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm thiết kế xây dựng, chủ trì thực hiện các công việc quy định tại điểm a, b và c khoản 2 Điều 19 của Luật này (gồm: thiết kế kiến trúc công trình; thiết kế kiến trúc trong đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, thiết kế đô thị; thiết kế kiến trúc cảnh quan) trong tổ chức hành nghề kiến trúc, kiến trúc sư hành nghề độc lập theo tư cách cá nhân phải có chứng chỉ hành nghề kiến trúc trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này.
Cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề độc lập theo tư cách cá nhân.
Ngoài ra liên quan đến thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề kiến trúc, Khoản 1 Điều 27 (Thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề kiến trúc; thời hạn của chứng chỉ hành nghề kiến trúc)Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 quy định cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề kiến trúc.
Song, tại dự thảo, Bộ Xây dựng đề xuất 2 phương án. Phương án 1: Cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi, cấp lại, chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc (giữ nguyên, không sửa).
Phương án 2: Cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về hành nghề kiến trúc ở Trung ương có thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi, cấp lại, chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc.
Ảnh minh họa.
Đối với Quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu hành nghề kiến trúc, theo quy định tại Điều 24 (Quản lý thông tin hành nghề kiến trúc), trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc hoặc nhận được thông báo của tổ chức hành nghề kiến trúc có trụ sở hoạt động tại địa phương, cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh phải đăng tải công khai thông tin về tổ chức, cá nhân hành nghề kiến trúc trên trang thông tin điện tử do mình quản lý và gửi thông tin đến Bộ Xây dựng;
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh, Bộ Xây dựng phải đăng tải công khai thông tin về tổ chức, cá nhân hành nghề kiến trúc trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.
Tại dự thảo, Bộ Xây dựng đề xuất sửa đổi quy định trên thành quy định về Quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu hành nghề kiến trúc. Cụ thể, cơ sở dữ liệu hành nghề kiến trúc bao gồm cơ sở dữ liệu về chứng chỉ hành nghề kiến trúc và cơ sở dữ liệu về tổ chức hành nghề kiến trúc;
Dữ liệu hành nghề kiến trúc được thu thập khi cá nhân và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính cấp, cấp lại, chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc và được cập nhật, đồng bộ, quản lý trên Hệ thống thông tin, cơ sở quốc gia về hoạt động xây dựng;
Mỗi chứng chỉ hành nghề được gắn với một mã định danh chứng chỉ hành nghề kiến trúc để làm cơ sở quản lý theo quy định.
Bên cạnh đó, liên quan đến đến chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc, Khoản 2 Điều 31 (Hành nghề kiến trúc của người nước ngoài tại Việt Nam) Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 quy định người nước ngoài đã có chứng chỉ hành nghề kiến trúc đang có hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, tham gia dịch vụ kiến trúc ở Việt Nam dưới 6 tháng thì thực hiện thủ tục công nhận chứng chỉ hành nghề kiến trúc, từ 6 tháng trở lên thì thực hiện thủ tục chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc tại cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh;
Việc công nhận, chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ được thực hiện theo quy định của thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Tại dự thảo, Bộ đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định này thành người nước ngoài đã có chứng chỉ hành nghề kiến trúc đang có hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, tham gia dịch vụ kiến trúc ở Việt Nam thực hiện thủ tục chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc tại cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh...
Thanh Xuân