Người dân có thể được trừ chi phí y tế, giáo dục trước khi tính thuế. Ảnh: H.H.
Theo đó, cơ quan này đề xuất cho phép người dân được khấu trừ thêm các khoản chi phí y tế và giáo dục, đào tạo trước khi xác định thu nhập tính thuế.
Cơ chế thuế sát hơn với đời sống người dân
Hiện nay, người nộp thuế đang được áp dụng mức giảm trừ gia cảnh gồm 15,5 triệu đồng/tháng đối với bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, trong bối cảnh chi phí sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và giáo dục ngày càng gia tăng, việc bổ sung thêm các khoản giảm trừ thiết yếu là cần thiết.
Theo tờ trình về dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, Bộ Tài chính đã chính thức đề xuất cho phép người nộp thuế được khấu trừ thêm các khoản chi phí về y tế, giáo dục và đào tạo trước khi xác định thu nhập tính thuế.
Bộ Tài chính đưa ra hai phương án khấu trừ căn cứ trên mức chi tiêu bình quân của người dân. Sau khi lấy ý kiến và đánh giá tác động, cơ quan soạn thảo nghiêng về phương án thứ hai do phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và sát với thực tế đời sống.
Theo phương án được đề xuất, chi phí khám chữa bệnh thuộc phạm vi danh mục bảo hiểm y tế sẽ được giảm trừ tối đa 23 triệu đồng mỗi năm. Bên cạnh đó, các khoản chi cho giáo dục và đào tạo cũng được đề xuất giảm trừ tối đa 24 triệu đồng mỗi năm.
Như vậy, tổng mức giảm trừ bổ sung cho hai nhóm chi phí này có thể lên tới 47 triệu đồng/năm đối với một người nộp thuế. Con số này cao hơn mức 41 triệu đồng của phương án trước đó.
Bộ Tài chính cho rằng việc bổ sung các khoản giảm trừ này sẽ góp phần bảo đảm công bằng thuế, hỗ trợ người dân có thêm điều kiện chăm lo sức khỏe, học tập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo tính toán của cơ quan soạn thảo, nếu một cá nhân có một người phụ thuộc và phát sinh đầy đủ các chi phí y tế, giáo dục theo mức tối đa được đề xuất, tổng mức giảm trừ có thể lên tới 307,4 triệu đồng mỗi năm, chưa bao gồm các khoản bảo hiểm bắt buộc.
Cụ thể, tổng mức giảm trừ này bao gồm: 186 triệu đồng giảm trừ cho bản thân, 74,4 triệu đồng cho một người phụ thuộc và thêm 47 triệu đồng cho các khoản chi phí y tế, giáo dục.
Nhiều ý kiến đánh giá, đề xuất mới cho thấy định hướng xây dựng chính sách thuế lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ cách tính thuế cứng sang tiếp cận linh hoạt hơn theo mức độ chi tiêu thiết yếu của từng hộ gia đình. Nếu được thông qua, đây sẽ là bước điều chỉnh đáng chú ý nhằm giảm áp lực tài chính cho người lao động trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao.
Để đảm bảo tính chặt chẽ và tránh trục lợi chính sách, dự thảo quy định rõ các khoản chi được giảm trừ phải có hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Riêng đối với chi phí y tế, khoản chi phải nằm trong danh mục do Bộ Y tế quy định và không được trùng lắp với các nguồn hỗ trợ khác (như bảo hiểm chi trả hay cơ quan chi trả thay). Đồng thời, chính sách này cũng loại trừ các trường hợp người nộp thuế đã được hưởng các cơ chế ưu đãi thuế khác đối với cùng một loại chi phí.
Theo lộ trình dự kiến, Nghị định sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 để thống nhất với hiệu lực của luật chính. Riêng các quy định liên quan trực tiếp đến thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ được bắt đầu áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công tác quyết toán và tuân thủ pháp luật thuế của người dân và doanh nghiệp.
Nhìn từ chính sách thuế của các nước
Nhiều quốc gia sử dụng công cụ giảm trừ hoặc khấu trừ thuế TNCN đối với chi tiêu y tế và giáo dục - đào tạo như một giải pháp chính sách nhằm chia sẻ rủi ro với hộ gia đình, khuyến khích đầu tư cho nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các cơ chế này thường được thiết kế có mục tiêu, gắn với mức chi thực tế. Tuy nhiên, cách thức, phương thức thực hiện cũng như việc xác định mức giảm trừ của các nước khác nhau. Mức giảm trừ chung cho người nộp thuế ở các nước cũng rất khác nhau, thậm chí có quốc gia không định mức giảm trừ chung cho người phụ thuộc mà lồng ghép vào các khoản giảm trừ cho y tế, giáo dục – đào tạo của người phụ thuộc.
Tại Trung Quốc, pháp luật thuế TNCN cho phép người nộp thuế được giảm trừ 60.000 RMB (Nhân dân tệ)/năm (bằng 0,6 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Trung Quốc), không quy định mức giảm trừ chung cho người phụ thuộc nhưng cho phép người nộp thuế được hưởng mức giảm trừ cho y tế nếu như mức chi phí cho y tế phát sinh trong năm cao hơn 15.000 RMB. Tuy nhiên, Trung Quốc khống chế mức giảm trừ tối đa không vượt quá 80.000 RMB (gộp chung cho cả người nộp thuế và cả con, vợ, chồng, bố, mẹ của người nộp thuế), tối thiểu là 15.000 RMB tương ứng với tỷ lệ khoảng 16% GDP bình quân đầu người.
Đối với các khoản giảm trừ giáo dục, Trung Quốc cho phép người nộp thuế giảm trừ chi phí giáo dục cho con đang học phổ thông với mức 2.000 RMB/tháng (24.000 RMB/năm), tương ứng với tỷ lệ khoảng 24% trên GDP bình quân đầu người của Trung Quốc...
Tại Thái Lan, pháp luật thuế TNCN cho phép giảm trừ đối với người nộp thuế ở mức tối đa không quá 90.000 Baht/năm (Bao gồm 2 khoản: khoản giảm trừ bằng 40% thu nhập nhưng không vượt quá 60.000 Baht/năm và khoản giảm trừ cố định 30.000 Baht/năm) (bằng 0,33 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Thái Lan) và giảm trừ cho con dưới 25 tuổi là 15.000 Baht/năm/người con nhưng tối đa không quá 3 con (tương đương 45.000 Baht hay bằng 0,17 lần GDP bình quân đầu người năm 2025 của Thái Lan) và giảm trừ thêm 2.000 Baht/năm (khoảng 64 USD) cho mỗi con đang học tại cơ sở giáo dục ở Thái Lan.
Thái Lan không có quy định giảm trừ riêng cho chi y tế nhưng cho phép người nộp thuế được phép giảm trừ các khoản chi mua bảo hiểm y tế tối đa không quá 25.000 Baht/năm, bảo hiểm sức khỏe cho bố, mẹ không quá 15.000 Baht/năm.
H.Hương