Việc kết nối dữ liệu điện tử góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xuất nhập cảnh và nghĩa vụ thuế. (Ảnh: TTXVN)
Đây là điểm nghẽn về thuế, ảnh hưởng đến tính minh bạch của môi trường kinh doanh và tiềm ẩn rủi ro thất thu ngân sách nhà nước.
Cục Thuế cho biết, hiện nay, số lượng người nộp thuế do cơ quan thuế đang quản lý hiện lên đến 44,7 triệu người. Trong đó, khu vực sản xuất, kinh doanh có 1.041.277 doanh nghiệp, gần 200.000 tổ chức và khoảng 3 triệu hộ, cá nhân kinh doanh.
Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh
Về công tác quản lý nợ thuế, đến nay, cơ quan thuế đã ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh đối với khoảng 105.000 người đại điện theo pháp luật của doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh với số tiền thuế nợ gần 61.000 tỷ đồng; trong đó, có khoảng 65.000 trường hợp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký với số tiền thuế nợ hơn 6.900 tỷ đồng. Sau khi thông báo, cơ quan thuế đã thu hồi được hơn 4.000 tỷ đồng nợ thuế của hơn 13.000 người nộp thuế.
Đáng lưu ý, sau khi nhận được thông báo nợ thuế, khoảng 7.100 trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký đã chủ động liên hệ với cơ quan thuế để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với số tiền gần 100 tỷ đồng và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Tuy nhiên, do chưa có quy định ngưỡng nợ thuế tối thiểu đối với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nên đã xảy ra một số trường hợp người dân ra sân bay nhưng không được xuất cảnh dù còn nợ thuế với số tiền rất nhỏ, chỉ vài chục nghìn đồng.
Đây không phải trường hợp cá biệt vì thống kê của ngành thuế cho thấy hơn 50% doanh nghiệp, hộ kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký có phát sinh nợ thuế dưới 1 triệu đồng.
Để bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tại dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung ngưỡng nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên đối với doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh khi chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế sau 30 ngày được thông báo.
Bên cạnh việc bổ sung ngưỡng nợ thuế bị cấm xuất cảnh, ông Mai Sơn, Phó trưởng Cục Thuế cho biết, thời gian tới, Cục Thuế sẽ tiếp tục phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) nghiên cứu nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh theo thời gian thực ngay sau khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Trên đường ra sân bay hoặc tại cửa khẩu, nếu tra cứu phát hiện mình còn nợ thuế và bị tạm hoãn xuất cảnh, người dân có thể nộp ngay số thuế còn thiếu, hệ thống phần mềm thuế sẽ lập tức ghi nhận và kết nối liên thông tới các đơn vị liên quan để xử lý cho người dân được xuất cảnh bình thường, không ảnh hưởng đến kế hoạch đi lại của mình.
Trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh chuyển đổi số và cải thiện môi trường đầu tư, việc để doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế là một điểm nghẽn lớn trong công tác quản lý thuế.
Trước tình trạng này, Cục Thuế triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế-Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, kéo dài từ nay đến hết năm 2026 với sự phối hợp của chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký kinh doanh, hải quan, công an.
Mục tiêu của chiến dịch nhằm làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu thuế, tiến tới giảm thiểu số lượng người nộp thuế tồn đọng ở các trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Quản lý thuế từ kho dữ liệu hóa đơn điện tử
Chia sẻ tại Hội thảo Quản lý thuế theo dòng tiền diễn ra mới đây, Phó trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh cho biết hiện nay, nhiều hoạt động kinh doanh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số với đặc điểm giao dịch phát sinh nhanh, quy mô lớn và có tính xuyên biên giới.
Do đó, công tác quản lý của ngành thuế không còn dựa vào phương thức truyền thống trên cơ sở kê khai thuế hoặc đếm khách, đếm doanh thu tại cửa hàng mà chuyển mạnh sang quản lý bằng dữ liệu.
Đáng lưu ý, hóa đơn điện tử đã trở thành kho dữ liệu lớn ghi nhận gần như toàn bộ giao dịch của nền kinh tế. Cơ quan thuế sẽ lấy dữ liệu hóa đơn điện tử làm căn cứ để so sánh, đối chiếu các dòng tiền của người nộp thuế, xác định nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh, phân tích rủi ro và thực hiện kiểm tra nếu thật sự cần thiết.
Khi phát hiện dấu hiệu rủi ro lớn, giao dịch bất thường hoặc nghi vấn trốn thuế, rửa tiền, ngân hàng sẽ phối hợp cung cấp thông tin theo quy định.
Từ dữ liệu hóa đơn điện tử, cơ quan thuế sẽ đối chiếu với dòng tiền từ ngân hàng, trung gian thanh toán, sàn thương mại điện từ để xác định nghĩa vụ thuế thực tế của doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh để phát hiện rủi ro, gian lận.
Hiện ngành thuế đã nắm thông tin khoảng 250 triệu tài khoản ngân hàng, trong đó khoảng 200 triệu tài khoản cá nhân.
Trong bước ngoặt về quản lý thuế hiện nay, rào cản lớn nhất khiến hộ kinh doanh chưa minh bạch dòng tiền là tâm lý e ngại kê khai thuế và thói quen giấu doanh thu. Tuy nhiên, cơ chế quản lý thuế mới cùng với áp lực từ thị trường đang buộc các hộ kinh doanh phải thay đổi.
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam cho biết, dữ liệu giao dịch đều để lại dấu vết, cơ quan quản lý có thể đối chiếu xác định doanh thu thực tế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, từ đó phát hiện và xử lý các trường hợp gian lận, che giấu doanh thu nhằm trốn thuế.
Quá trình minh bạch hóa vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là tại nhóm kinh doanh dịch vụ ăn uống vì hộ kinh doanh nhỏ quen giao dịch tiền mặt, chưa xuất hóa đơn kịp thời làm phát sinh nhiều vướng mắc.
Tương tự, doanh nghiệp mua hàng nhưng không có hóa đơn sẽ phát sinh nhiều khó khăn trong hạch toán chi phí đầu vào, ảnh hưởng đến việc làm ăn với các đối tác.
Bà Cúc cũng cho rằng, điều quan trọng nhất là phải tạo được niềm tin để người kinh doanh yên tâm kê khai, tránh tâm lý sợ bị truy thu thuế hay xử lý thiếu hợp lý. Khi được giải thích đầy đủ và vận động đúng cách, nhiều người dân sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thuế.
Tìm cách gian lận, “né” thuế sẽ là lựa chọn rất rủi ro với người nộp thuế vì vi phạm sớm hay muộn cũng bị phát hiện với công nghệ quản lý hiện nay.
Về phía cơ quan quản lý, mục tiêu hướng đến là xây dựng quy trình kê khai đơn giản, dễ thực hiện để hộ kinh doanh thuận lợi khi chuyển sang quản lý sổ sách, hóa đơn và dòng tiền, hướng tới sự minh bạch.
TÔ HÀ