Bến sông xưa thức dậy trong tiếng chiêng, tiếng trống trầm hùng.
Bến sông xưa, gặp người đi qua “170 thác, 130 ghềnh”
Giữa ánh sáng lung linh của hàng nghìn ngọn hoa đăng trôi trên mặt nước và tiếng chiêng vọng dài theo dòng Đà giang, không gian đêm cầu ngư dường như chậm lại trong một cảm giác thiêng liêng, sâu thẳm.
Giữa ánh sáng lung linh, tiếng chiêng vọng lại trong một cảm giác thiêng liêng, sâu thẳm.
Từ sớm, dòng người đã đổ về phố đi bộ ven sông - nơi từng là một bến nước sầm uất bậc nhất của phố chợ Phương Lâm xưa. Thuở ấy, những chuyến thuyền ngược xuôi trên Đà giang thường ghé lại nơi này để trao đổi hàng hóa, cá, tôm... Cả một vùng bến sông rộn ràng tiếng mái chèo khua nước, tiếng gọi đò trong sương sớm và ánh lửa bập bùng của những thuyền chài neo đậu suốt đêm bên bờ. Giờ đây, bến sông năm cũ đã đổi khác, nhưng trong đêm cầu ngư, giữa tiếng chiêng vọng núi và ánh hoa đăng trôi trên mặt nước, đâu đó vẫn có cảm giác hơi thở của phố chợ xưa trở về cùng dòng sông.
Trong dòng người ấy có những cụ già tóc bạc, những cô gái trẻ nâng niu hoa đăng và cả du khách phương xa mang theo ánh mắt háo hức. Khói hương bảng lảng bay trong gió, hòa cùng tiếng chiêng ngân vọng khiến cả không gian như chìm vào miền huyền hoặc. Gió từ lòng sông thổi lên mát lạnh, thoang thoảng mùi hương trầm. Từng hồi chiêng ngân dài giữa đêm, vọng qua mặt nước và những triền núi, khiến cả dòng Đà giang như đang thức dậy trong miền ký ức xa xăm.
Từng hồi chiêng ngân dài, vọng qua mặt nước đã khơi dậy lại ký ức xa xăm về một sử tích in sâu trong tiềm thức người dân hai bên bờ sông Đà.
Đứng ở mép nước, tôi nhớ đến những câu chuyện của những người già từng kể. Thuở chưa có thủy điện, nước sông Đà mùa cạn xanh ngắt màu đá núi, còn mùa lũ đỏ đục phù sa, cuồn cuộn qua những ghềnh đá hiểm trở. Khi ấy, những làng chài ven sông sống nhờ cá, tôm, những mẻ lưới thả trong sương sớm và những chuyến thuyền độc mộc ngược xuôi.
Có những người đàn ông gần như dành trọn cả đời mình nơi dòng sông bến nước. Vai áo bạc màu vì sương gió, đôi bàn tay chai sần vì kéo lưới, chống chèo vượt ghềnh, vượt thác. Đêm xuống, họ đốt đuốc soi cá bên những doi đá dựng đứng, ánh lửa chập chờn soi lên vách núi. Tiếng mái chèo khua nước vang vọng giữa đêm sâu hòa cùng sóng đập vào mạn thuyền nghe hun hút như tiếng gọi của đại ngàn.
Giữa tiếng chiêng vọng núi và ánh hoa đăng trôi trên mặt nước, đâu đó vẫn có cảm giác hơi thở của phố chợ Phương Lâm xưa.
Nơi bến sông xưa, tôi gặp lão ngư Đoàn Viết Thành, nhà ở xóm Săng Bờ, xã Tiền Phong cũng về dự hội. Người đàn ông tóc đã bạc quá nửa ấy được nhiều người gọi là “lão ngư” bởi cả cuộc đời ông gắn với dòng Đà giang. Vốn là người vùng xuôi lên lập nghiệp vào những năm 1970, ông là nhân viên của HTX Vận tải thủy sông Đà, chuyên vận chuyển hàng hóa từ bến chợ Phương Lâm lên tận Vạn Yên, Tạ Bú (Sơn La). Bao năm bôn ba sông nước, con sông này đã giữ ông ở lại. Ông kể rằng, khi sông Đà còn nổi tiếng dữ dội với “170 thác, 130 ghềnh”, ông là một tay chèo đò lão luyện. Những chuyến đò xuôi ngược qua ghềnh đá hiểm trở đã trở thành một phần ký ức đời ông.
Trò chuyện với tôi, ông cười chậm rãi, đôi mắt như đang nhìn về một khúc sông xa lắm. "Hồi ấy, người sống với sông phải hiểu tính sông. Sông Đà dữ lắm nhưng cũng nghĩa tình lắm" - ông Thành nói. Sau ngày ngăn đập tích nước, lòng sông năm xưa hóa thành hồ rộng mênh mang, những bến nước cũ, ghềnh đá dữ dội và nhiều xóm ven sông đã nằm lại dưới lòng hồ. Người chèo đò năm nào giờ trở thành ngư phủ, sống bằng nghề chài lưới trên mặt hồ thủy điện.
Khi dòng sông thức giấc giữa ngàn ánh hoa đăng
Người ven sông Đà sống dựa vào sông, kính sợ sông và cũng mang ơn dòng sông như mang ơn một vị thần. Bởi thế, từ xa xưa, lễ cầu ngư đã trở thành một phần đời sống tâm linh của cư dân xứ Mường. Mỗi năm, người dân làm lễ cúng thần sông, cầu cho trời yên nước lặng, cho thuyền bè đi về bình an, cho những mẻ lưới đầy cá.
Với người dân nơi đây, dòng sông không chỉ là nguồn nước hay cảnh quan mà giống như một thực thể sống, một phần ký ức và linh hồn của xứ Mường. Giữa âm thanh tiếng chiêng lúc như thác đổ, lúc ngân nga như gió, tôi chợt nhớ đến những câu chuyện về đời sống tâm linh của người Mường đã gắn với dòng sông từ bao đời. Trong không gian ấy, tất cả nối tiếp nhau như một dòng chảy chưa bao giờ đứt đoạn. Có lúc nghe như tiếng mái chèo khua nước trong lời hát, có lúc lại thấy bóng dáng những người dân từng rời quê, nhường đất dựng xây công trình Thủy điện Hòa Bình.
Khi dòng sông Đà thức giấc, lung linh giữa ánh đèn hoa đăng.
Khi ngàn hoa đăng trôi trên dòng Đà giang, cả mặt sông như một dải sáng huyền ảo. Làn khói hương mỏng bay lên giữa bóng tối bảng lảng của mặt nước. Tiếng mo cất lên trầm đục, hòa cùng tiếng chiêng, tiếng trống khiến cả không gian như chìm vào miền huyền hoặc. Không ai còn nói chuyện lớn tiếng, những người đứng quanh tôi cũng lặng đi.
Trong ánh đèn loang trên mặt nước, tôi nghe tiếng nước vỗ nhẹ vào mạn thuyền hòa cùng giọng khấn cổ vang lên giữa đêm. Đó là lời cầu cho bình an, mưa thuận gió hòa, cho người dân có cuộc sống no đủ và những chuyến sông nước được bình yên...
Trang nghiêm lễ cầu ngư.
Dòng Đà giang hôm nay đã đổi thay nhiều, nhưng ký ức của cư dân sông nước vẫn còn trong tiếng chiêng trầm hùng, trong lời mo và trong những lễ cầu ngư. Khi những chùm pháo bông cuối cùng bừng sáng trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt sông đầy hoa đăng, nhiều người vẫn chưa muốn rời đi. Tôi cũng đứng lại thật lâu bên mép nước, nhìn dòng sông lặng lẽ chảy qua phố núi mềm mại và yên bình. Giữa tiếng chiêng ngân vọng trong đêm, tôi chợt có cảm giác như mình vừa đi qua một giấc mơ đẹp của xứ Mường bên dòng sông huyền thoại.
Với người dân nơi đây, dòng sông không chỉ là nguồn nước hay cảnh quan mà giống như một thực thể sống, một phần ký ức và linh hồn.
Mạnh Hùng