Địa bạ cổ nhất Việt Nam đang được lưu giữ tại Huế

Địa bạ cổ nhất Việt Nam đang được lưu giữ tại Huế
2 giờ trướcBài gốc
GS. Nguyễn Tài Cẩn (bên phải) và tác giả tại nhà thờ họ Lê Văn
Đây là văn bản Hán Nôm cổ nhất ở Huế dưới dạng bản gốc viết trên giấy dó mỏng. Văn bản có khổ rộng (42cm x 26,5cm), mặt sau được dán bồi thêm một lớp giấy dó dày hơn, nếp gấp ở giữa văn bản bị rách, mất một số nét và chữ, nên được người đời sau viết lại trên phần giấy bồi. Toàn văn bản có 21 dòng, 576 chữ, lề bên phải có viết thêm 4 chữ "Khám cấp Ma Nê". Văn bản này hiện đang được lưu giữ tại Di tích nhà thờ họ Lê Văn, làng Mỹ Xuyên, phường Phong Dinh, thành phố Huế.
Bản dịch:
“Lộ Thuận Hóa Châu Hóa, Tán Trị thừa chính sứ Ty khám cấp ruộng hoang lậu bãi nổi.
Năm Đại Hòa thứ 7 (1449), ngày 5 tháng Chạp căn cứ vào việc Lê Cạnh xã trưởng xã Đa Cảm, huyện Trà Kệ, Châu Hóa, Lộ Thuận Hóa, cùng với Đoàn Túy, Lê Cán, Võ Thát, Lê Lực, Nguyễn Văn Lỗ, Đoàn Luyện, Đoàn Cù, Bùi Thị, Đoàn Văn Quí, Đoàn Văn Triển (?) cùng với bọn Đoàn Văn Kỳ, Nguyễn Cự Lộng, Phùng Văn Hý, Lê Bái, Hồ Đồi Đoàn Văn Thi cùng Trần Tử Kỳ (?), Lê Hiến, Lê Văn Quốc, Phan Chó Con.
Nhân vì đất đai làng xã nhỏ hẹp, người đông ruộng ít. Biết được trong huyện có số đất hoang lậu bãi nổi đã thành ruộng nhưng không có người đến cày cấy. Lê Cạnh, Đoàn Túy (?), Lê Văn Quế, Phan Chó Con lập tờ trình khẩn thành thục canh tác và nộp thuế. Huyện quan chấp thuận cho họ đến canh khẩn ruộng tại xứ đồng Ma Nê, Đông Tây tứ phía tổng cộng hơn một trăm mẫu: Phê duyệt cho Lê Cạnh, Đoàn Túy, Lê Văn Quế cùng với Phan Chó Con được khai khẩn thành thục, nộp thuế như lệ định.
Đến ngày 10 tháng 8 năm Đại Hòa thứ 9 (năm 1451), Lê Cạnh, Đoàn Túy, Lê Cán, Võ Thái, Lê Trực, Nguyễn Văn Lỗ, Đoàn Luyện cùng với Đoàn Cù, Bùi Thị, Đoàn Văn Quí, Đoàn Văn Triển, Đoàn Văn Kỳ, Nguyễn Ỷ, Lê Văn Độc, Hồ Đức Tuyền, Nguyễn Cự Lộng cùng với Phùng Văn Hý, Lê Bái, Hồ Đồi, Đoàn Văn Thi, Trần Tử Kỳ (?), Lê Hiến, Lê Văn Quế, Phan Chó Con lại có đơn cáo trình Quan Thừa ty cùng quan huyện đích thân đến xứ ruộng này xem xét và đo đạc Đông Tây tứ phía như Lê Cạnh, Đoàn Túy cùng với bọn Lê Văn Quế, Phan Chó Con đã tâu trình. Việc xong, phê chuẩn hiện trạng, làm văn bản cho số ruộng này và thiết lập, phân định mốc giới.
Cấp giao cho Lê Cạnh, Đoàn Túy, Lê Văn Quế, Phan Chó Con (cùng với những người đã tham gia) được quyền canh tác trên hơn trăm mẫu ruộng ở xứ đồng Ma Nê. (Số ruộng này) được đăng ký vào sổ điền bạ của xã. Được quyền để lại cho con cháu cày cấy và nộp thuế như lệ định. Vậy nên cấp giấy này để làm bằng...
Tư liệu không chỉ cho chúng ta biết về công cuộc khai hoang ruộng đất của người dân Thuận Hóa vào thế kỷ XV mà còn chứa đựng nhiều thông tin quý giá về niên đại, địa danh một số đơn vị hành chính dưới thời Lê sơ
(1428 - 1527).
Về niên đại của Vua Lê Nhân Tông, sách “Việt Nam sử lược” tập I của Trần Trọng Kim chép: “Lê Nhân Tông (1443 - 1459) Niên Hiệu: Đại Hòa (1443 - 1453), Diên Ninh (1454 - 1459)”, còn lại các tư liệu lịch sử khác đều ghi niên hiệu của vua Lê Nhân Tông là 太和 (Thái Hòa), nhưng trong văn bản “Khám cấp Ma Nê” viết là 大和 (Đại Hòa). Niên hiệu 大和 (Đại Hòa) được viết 3 lần: Lần 1, thời điểm người dân làm đơn xin khai hoang: “Đại Hòa thất niên, thập nhị nguyệt, sơ ngũ nhật…” (ngày 5 tháng Chạp, năm Đại Hòa thứ 7 (1449)...). Lần 2, cáo trình với quan trên về việc đã hoàn thành khai hoang xứ ruộng Ma Nê “Chí Đại Hòa cửu niên, bát nguyệt sơ thập nhật…” [Đến ngày 10 tháng 8 năm Đại Hòa thứ 9 (1451)...]. Lần 3, thời điểm cấp giấy công nhận chủ quyền khai canh vùng ruộng Ma Nê cho tập đoàn cư dân xã Đa Cảm: “Đại Hòa cửu niên, thập nhị nguyệt sơ bát nhật…” [ngày mồng 8 tháng 12 Đại Hòa thứ 9 (1451)].
Để tìm hiểu thêm về niên hiệu của Vua Lê Nhân Tông, tôi đã trực tiếp ra Bắc để khảo sát tấm bia ma nhai ở suối Bát Nhã, Tam Đảo, Phú Thọ do Lê Khắc Phục lập ghi: “Đại Hòa bát niên, Canh Ngọ, ngũ nguyệt, thập nhật” [ngày mồng 10, tháng 5, Canh Ngọ, Đại Hòa thứ 8 (1451)], bia khắc rõ hai chữ 大和 Đại Hòa. Trong văn tự Hán, chữ 大 (Đại) và chữ 太 (Thái) chỉ khác nhau một dấu chấm (.), chữ 大 (Đại) có thể đọc là Thái. Nhưng ở đây là niên hiệu của một vị vua, tôi nghĩ rằng, không thể viết và đọc một cách tùy tiện được.
Về địa danh Thuận Hóa, sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” ở mục: Nước Đại Việt ở đời Trần và đời Hồ, khi chép về Thuận Hóa, học giả Đào Duy Anh vẫn chưa xác định được tên gọi chính xác đơn vị hành chính của vùng đất này trong thời điểm đó nên ông viết: “Trấn (lộ?) Thuận Hóa”. “Khám cấp Ma Nê” là văn bản hành chính xưa nhất chép rõ Thuận Hóa lộ...
Cho đến nay, văn bản Hán Nôm "Khám cấp Ma Nê" lưu giữ tại Di tích nhà thờ họ Lê Văn, làng Mỹ Xuyên, phường Phong Dinh, thành phố Huế, được xem là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” xưa nhất của Việt Nam. Đây là tư liệu Hán Nôm quý giá đã được người dân gìn giữ gần 600 năm. Đề nghị ngành văn hóa và địa phương cần có kế hoạch lập hồ sơ di sản tư liệu, hướng dẫn và hỗ trợ người dân về chuyên môn trong việc bảo quản tại chỗ tư liệu quý này.
Nguyễn Thế
Nguồn Thừa Thiên Huế : https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/dia-ba-co-nhat-viet-nam-dang-duoc-luu-giu-tai-hue-165419.html