Tháo gỡ vướng mắc pháp lý, khơi thông nguồn cung NƠXH
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.15/2026/NQ-CP về một số cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật trong phát triển nhà ở xã hội (NƠXH). Nghị quyết tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về quy hoạch, loại hình nhà ở và đối tượng thụ hưởng, qua đó tạo hành lang pháp lý linh hoạt, đồng bộ hơn để đẩy nhanh tiến độ các dự án NƠXH trên cả nước.
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết là xử lý khó khăn liên quan đến việc lập mới, điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch phân khu tại các khu vực hình thành đô thị khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
Theo đó, quy hoạch chi tiết được phép lập mới hoặc điều chỉnh đồng thời với quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch phân khu; hoặc thực hiện cùng quy hoạch chung trong trường hợp không yêu cầu lập quy hoạch phân khu. Việc phê duyệt quy hoạch chi tiết sẽ được thực hiện sau khi quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu được phê duyệt.
Ảnh minh họa: Internet
Bên cạnh đó, Nghị quyết cho phép thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư đối với các khu đất chưa có hoặc chưa phù hợp với quy hoạch đô thị, nông thôn. Cơ chế này được triển khai theo quy định của pháp luật về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển NƠXH, qua đó tháo gỡ ách tắc trong khâu chuẩn bị đầu tư.
Về loại hình phát triển, Nghị quyết quy định tại các thành phố trực thuộc Trung ương và khu vực thuộc địa giới hành chính phường của tỉnh, NƠXH và nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân phải được xây dựng dưới hình thức nhà chung cư.
Đối với các khu vực còn lại, HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm quyết định loại hình NƠXH và nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, bảo đảm phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế của địa phương. Quy định này được kỳ vọng sẽ tăng tính linh hoạt, giúp các địa phương chủ động lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với đặc thù dân cư, quỹ đất và hạ tầng.
Nghị quyết cũng bổ sung, làm rõ một số nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách NƠXH. Cụ thể, hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất, nhà ở vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà chưa được bồi thường bằng nhà ở, đất ở thì được mua, thuê mua NƠXH mà không phải bốc thăm và không phải đáp ứng điều kiện về nhà ở, thu nhập theo quy định hiện hành.
Cùng với đó, người lao động theo hợp đồng không xác định thời hạn hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang làm việc tại các đơn vị công an được mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân. Điều kiện về nhà ở và thu nhập của nhóm đối tượng này được áp dụng tương tự quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở.
Nghị quyết 66.15/2026/NQ-CP có hiệu lực kể từ ngày 13/2/2026 và được thực hiện đến hết ngày 28/2/2027. Trường hợp trong thời gian này, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh hoặc nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới và có hiệu lực trước ngày 28/2/2027, thì các quy định tương ứng tại Nghị quyết sẽ chấm dứt hiệu lực.
Hà Nội phê duyệt đơn giá thuê mặt bằng kinh doanh tại nhiều chung cư thuộc tài sản công
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 730/QĐ-UBND phê duyệt đơn giá cho thuê diện tích kinh doanh dịch vụ tại một số tòa nhà chung cư tái định cư và chung cư thương mại thuộc tài sản công của TP, giao cho Trung tâm Quản lý nhà TP Hà Nội quản lý.
Theo đó, UBND TP phê duyệt đơn giá cho thuê chi tiết đối với từng vị trí, diện tích kinh doanh dịch vụ tại các tòa nhà. Mức giá được xác định theo đơn vị đồng/m²/tháng và chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT).
(Ảnh minh họa: Internet)
Đối với các tòa chung cư thương mại thuộc tài sản công, tập trung chủ yếu tại Khu đô thị Việt Hưng, đơn giá cho thuê dao động từ 133.000-186.000 đồng/m²/tháng. Cụ thể, tại các tòa K1, K2, K5, K6 (lô đất CT14) và các tòa CT20B, CT20C, CT20D, CT20E (lô đất CT20) - Khu đô thị Việt Hưng, mức giá phổ biến trong khoảng 139.000-179.000 đồng/m²/tháng. Một số ki-ốt có vị trí thuận lợi ghi nhận mức giá cao hơn, như 186.000 đồng/m²/tháng tại tòa P1 (lô CT16) và CT20B.
Đối với các tòa chung cư tái định cư, mức giá có sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực và tầng sử dụng. Tại khu vực Tây Nam đường Lê Đức Thọ (phường Từ Liêm), đơn giá tầng 2 của tòa N01 và N02 là 261.000 đồng/m²/tháng.
Tại Khu nhà ở Vĩnh Hoàng (phường Tương Mai), giá thuê tầng 1 các tòa CTI.1-1A, CTI.1-1B và CTI.2 dao động từ 190.000-206.000 đồng/m²/tháng.
Đáng chú ý, tại Khu đô thị Nam Trung Yên (phường Yên Hòa), mức giá cho thuê tầng 1 tại một số đơn nguyên thuộc tòa 21T1 và 21T2 (A14A1, A14A2, A14B1, A14B2) lên tới 413.000 đồng/m²/tháng; riêng một số diện tích tầng 1 chưa cho thuê có mức 442.000 đồng/m²/tháng. Trường hợp sử dụng làm văn phòng, đơn giá là 335.000 đồng/m²/tháng; nếu sử dụng làm thương mại dịch vụ, mức giá là 442.000 đồng/m²/tháng.
Tại các tòa khác trong khu vực Nam Trung Yên như A6A, A6B, A6C, A6D, B3D, B6A, B10A và tổ hợp 30T1 + 30T2, đơn giá dao động từ 177.000-245.000 đồng/m²/tháng tùy tầng và diện tích cụ thể.
Trong khi đó, một số khu tái định cư khác như Kim Giang (phường Khương Đình) có mức giá thấp hơn, từ 130.000-137.000 đồng/m²/tháng; tòa CT2 Xuân La (phường Nghĩa Đô) ghi nhận mức 267.000 đồng/m²/tháng tại tầng 1.
Trung tâm Quản lý nhà TP Hà Nội có trách nhiệm căn cứ đơn giá được phê duyệt để xác định giá khởi điểm, bước giá, trình Sở Tài chính thẩm định và phê duyệt trước khi tổ chức đấu giá cho thuê theo quy định của Luật Đấu giá tài sản và các văn bản liên quan. Đồng thời, đơn vị này phải kịp thời rà soát, tham mưu điều chỉnh, bổ sung đơn giá khi phát sinh diện tích kinh doanh dịch vụ tăng thêm hoặc khi có biến động về đơn giá cho thuê, bảo đảm phù hợp quy định hiện hành. Việc sử dụng kinh phí phải đúng mục đích, chế độ và thực hiện thanh quyết toán theo Luật Ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Sở Tài chính có trách nhiệm thẩm định, phê duyệt giá khởi điểm và bước giá làm căn cứ tổ chức đấu giá. Sở Xây dựng ban hành quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá cho thuê tài sản theo quy định.
TP HCM đặt mục tiêu hoàn thành 199.400 căn NƠXH đến năm 2030
Theo báo cáo của Sở Xây dựng TP HCM, trong tổng số 199.400 căn NƠXH được giao đến năm 2030, khu vực TP HCM (cũ) đảm nhận 100.000 căn; khu vực Bình Dương (cũ) 86.900 căn và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) 12.500 căn. Đây là chỉ tiêu cao nhất cả nước đối với một địa phương, phản ánh quy mô dân số và tốc độ đô thị hóa lớn tại trung tâm kinh tế này.
Về kết quả thực hiện, tính riêng năm 2025, TP HCM đã hoàn thành 14 dự án với quy mô 12.799/13.040 căn, đạt 98,2% kế hoạch năm. Lũy kế giai đoạn 2021-2025, TP hoàn thành 17.902/18.143 căn, tương đương 98,7% kế hoạch 5 năm.
(Ảnh minh họa: Internet)
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, trong năm 2026, TP tập trung hoàn thành quy hoạch quỹ đất xây dựng NƠXH đến năm 2040 với tổng diện tích khoảng 2.000 ha. Trong đó, 600 ha thuộc các dự án đã có trong chương trình và 1.400 ha tại các khu động lực phát triển, ưu tiên gần các tuyến vành đai. Sở Xây dựng sẽ phối hợp với Sở Quy hoạch - Kiến trúc cụ thể hóa vị trí, chỉ tiêu sử dụng đất làm cơ sở kêu gọi nguồn lực xã hội hóa.
Đồng thời, TP đặt mục tiêu thúc đẩy hoàn tất thủ tục pháp lý đối với 47 dự án (quy mô khoảng 31.500 căn) đã được chấp thuận chủ trương đầu tư để phấn đấu khởi công trong quý I/2026. Một giải pháp quan trọng khác là việc công bố thiết kế điển hình công trình và xây dựng quy trình đầu tư mới nhằm cắt giảm tối đa 20% thời gian thực hiện so với quy trình thông thường. Các thủ tục về đầu tư, đất đai, quy hoạch sẽ được rà soát để thực hiện song song thay vì tuần tự.
Tuy nhiên, thách thức hiện nay vẫn nằm ở nguồn lực tài chính và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp. Do NƠXH có biên lợi nhuận thấp trong khi chi phí đầu vào tăng, TP cần những chính sách ưu đãi đủ mạnh về tín dụng, thuế và tiền sử dụng đất. Bên cạnh đó, việc phối hợp với hệ thống ngân hàng để bảo đảm nguồn vốn vay ưu đãi dài hạn cho người thu nhập thấp cũng là yếu tố then chốt để giải quyết bài toán an cư cho hàng trăm nghìn người dân.
Hạ Chi