Trên mảnh đất từng làm nên chiến thắng “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, một “trận đánh” mới đang diễn ra - trận đánh chống đói nghèo và tụt hậu. Điện Biên hôm nay không thiếu tiềm năng, nhưng vẫn đang là “vùng trũng” phát triển của cả nước. Nhận diện đúng điểm nghẽn, khơi dậy nguồn lực, biến nghị quyết thành hành động, đó là con đường mà Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên đang kiên trì theo đuổi, để từng bước đưa vùng đất lịch sử này vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới.
Không phải đến hôm nay, câu chuyện “vùng trũng phát triển” mới được nhắc đến với Điện Biên. Nhưng cũng chưa bao giờ, những yếu tố tạo nên một chu kỳ phát triển mới lại hội tụ rõ nét như lúc này. Từ chuyển dịch kinh tế có định hướng, những mô hình sinh kế hiệu quả ở cơ sở, đến tư duy lãnh đạo ngày càng sắc bén, quyết liệt của Đảng bộ tỉnh… tất cả đang dần định hình một nền tảng phát triển mới. Vấn đề không còn là “Điện Biên có gì”, mà là: Điện Biên đã và đang làm gì với những gì mình có.
Trong dòng chảy phát triển chung của vùng trung du và miền núi phía Bắc, Điện Biên không phải là địa phương nổi trội về quy mô kinh tế. Nhưng nếu nhìn vào động thái phát triển, bức tranh lại cho thấy những chuyển động đáng chú ý.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2020-2025, trong bối cảnh đầy biến động từ đại dịch, thiên tai đến suy giảm kinh tế toàn cầu, Điện Biên vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân 8,76%/năm, cao hơn mức trung bình của khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Đây không chỉ là con số, mà là biểu hiện của một nền tảng đang được gây dựng.
Điện Biên từng bước vươn mình đổi mới và phát triển.
Theo đồng chí Lê Thành Đô, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Điện Biên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh không chỉ duy trì ổn định mà còn đi kèm với chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực: Giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. GRDP năm 2025 đạt hơn 17.235 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 54 triệu đồng, tăng hơn 62% so với năm 2020.
Điều đáng chú ý hơn là: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 81.800 tỷ đồng, tăng mạnh so với giai đoạn trước; tổng thu ngân sách vượt mục tiêu nghị quyết; kinh tế tư nhân dần trở thành một động lực quan trọng… Những con số này cho thấy một thực tế: Điện Biên không còn đứng yên, mà đang dịch chuyển dù chưa nhanh, nhưng đúng hướng.
Đằng sau các con số là một xu hướng rõ ràng: Từ phát triển dựa vào tự nhiên sang phát triển dựa vào tổ chức lại nền kinh tế. Từ tăng trưởng số lượng sang nâng cao chất lượng. Đó là dấu hiệu của một nền tảng đang hình thành.
Đúng như nhận định của đồng chí Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Thành Đô: Điểm quan trọng không chỉ là tăng trưởng, mà là sự chuyển dịch. Cơ cấu kinh tế đang dịch chuyển theo hướng giảm phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy, tăng dần vai trò của công nghiệp, dịch vụ và các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Một trong những thế mạnh rõ nhất của Điện Biên là nông nghiệp. Nhưng điểm đáng nói không nằm ở diện tích hay sản lượng, mà ở cách tổ chức lại sản xuất. Tỉnh Điện Biên đã từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung với các cây trồng chủ lực: Lúa gạo chất lượng cao tại cánh đồng Mường Thanh; cà phê Arabica tại Mường Ảng; Mắc ca, cao su, chè và dược liệu. Tính đến năm 2025: Diện tích cây lâu năm đạt hơn 13.700 ha; riêng mắc ca hơn 12.300 ha; sản lượng lương thực đạt gần 295.000 tấn. Đây là bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang nông nghiệp hàng hóa có quy hoạch.
Nếu cần tìm một mô hình vừa mang giá trị kinh tế, vừa phản ánh chiều sâu xã hội, thì cà phê Mường Ảng là một điển hình. Ông Hà Văn Hoan, Chủ tịch Hội Cà phê Mường Ảng, khẳng định: “Một hecta cà phê không chỉ cho sản phẩm, mà còn tạo ra hàng chục triệu đồng tiền công lao động mỗi vụ. Đây chính là giá trị lớn nhất tạo sinh kế cho người dân.”
Với hơn 2.100 ha cà phê, mỗi năm riêng tiền công thu hái đã lên tới gần 70 tỷ đồng, một con số không nhỏ đối với một xã miền núi. Nhưng điều đáng nói hơn là tư duy phát triển đã thay đổi.
Mường Ảng là một trong những địa phương có diện tích trồng cà phê lớn nhất tại Điện Biên.
Gia đình anh Lường Văn Thoan ở bản Na Luông là một điển hình tiêu biểu vươn lên thoát nghèo từ cây cà phê. Trước đây, anh Thoan cùng vợ con sống chật vật với nghề trồng cây lương thực ngắn ngày, thu nhập bấp bênh, quanh năm “giật gấu vá vai”. Nhưng kể từ khi chuyển toàn bộ hơn 2ha đất sang trồng cà phê, cuộc sống của gia đình anh đã sang trang mới.
“Mỗi năm, tôi thu về trên 300 trăm triệu đồng từ bán cà phê. Nhờ đó mà gia đình có điều kiện sửa nhà, mua sắm vật dụng, cho con cái ăn học đầy đủ”, anh Thoan hồ hởi chia sẻ. Theo anh Thoan thì cà phê thực sự là cây xóa nghèo cho bà con nơi đây, nhà nào không có đất trồng cà phê thì đi thu hái, làm cỏ cho các hộ trong xã cũng có thu nhập trên 6 triệu đồng/tháng. Hộ nào có vài nghìn mét cà phê thì cũng có thu nhập gần trăm triệu đồng/năm.
Không riêng gia đình anh Thoan, hàng nghìn hộ dân tại Mường Ảng cũng đang gặt hái trái ngọt từ giống cà phê Arabica chất lượng cao. Tính đến thời điểm hiện tại, toàn xã đã có 1.662ha diện tích cà phê, tạo ra sản lượng lớn, mang lại doanh thu trên 260 tỷ đồng mỗi năm.
Đồng chí Tô Trọng Thiện, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Mường Ảng cho biết: “Chúng tôi không dừng ở việc trồng cà phê, mà tập trung xây dựng thương hiệu, xúc tiến thị trường, từng bước phát triển chế biến để nâng giá trị sản phẩm.” Đây là bước chuyển mang tính bản chất: Từ sản xuất sang kinh tế chuỗi giá trị.
Một điểm đáng ghi nhận là Điện Biên đang chuyển từ tư duy: “có gì trồng nấy” sang “trồng theo nhu cầu thị trường, gắn với chế biến và tiêu thụ”. Điều này thể hiện rõ qua phát triển nông nghiệp công nghệ cao, gắn sản xuất với chế biến, từng bước xây dựng thương hiệu nông sản. Đây là tiền đề để nông nghiệp không chỉ là “trụ đỡ”, mà có thể trở thành động lực tăng trưởng mới.
Già làng Lường Văn Pánh (ngồi thứ hai, hàng bên trái) chia sẻ với phóng viên Báo Quân đội nhân dân về đời sống của người dân địa phương.
Tại xã Thanh Yên, ông Lường Văn Pánh, già làng bản Chiềng Tông, chia sẻ: “Bà con giờ không chỉ lo cái ăn nữa, mà nghĩ đến làm sao bán được sản phẩm, làm sao có thu nhập ổn định. Người dân tin vào chủ trương của Đảng, nhưng cũng mong có thêm điều kiện để làm ăn lâu dài.” Còn anh Lường Văn Trung, một hộ sản xuất nông nghiệp, nói thẳng: “Chúng tôi không sợ khó, chỉ cần có đầu ra ổn định và đường sá thuận lợi thì bà con sẽ làm được.” Những chia sẻ mộc mạc ấy phản ánh một điều quan trọng: Người dân đã sẵn sàng thay đổi nếu có điều kiện.
Điện Biên có một lợi thế mà không địa phương nào có thể thay thế: Giá trị lịch sử mang tầm quốc tế. Không gian văn hóa đa dạng của 19 dân tộc. Nhưng điểm mới không nằm ở “có gì”, mà là “làm như thế nào”.
Nhìn lại giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đón hơn 5,5 triệu lượt khách, doanh thu đạt 9.400 tỷ đồng. Sự kiện Năm Du lịch quốc gia 2024 và các festival quy mô lớn đã đưa Điện Biên từ một điểm đến “ký ức” trở thành một điểm đến “trải nghiệm”. Điều đó cho thấy, du lịch Điện Biên nếu khai thác đúng hướng sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Điện Biên không chỉ bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống độc đáo, mà còn tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch, kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên nói riêng và các tỉnh Tây Bắc nói chung.
Việc ký kết hợp tác phát triển du lịch với các doanh nghiệp lớn như Vietravel cho thấy một bước chuyển: Từ làm du lịch tự phát sang làm du lịch theo chuỗi giá trị, có liên kết. Điều này mở ra khả năng: Hình thành các tour tuyến liên vùng, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách.
Một hướng đi đúng đắn của Điện Biên là: Không “sao chép mô hình du lịch đại trà” mà khai thác bản sắc riêng. Từ nghệ thuật xòe Thái, lễ hội truyền thống, đến kiến trúc bản làng… tất cả đều có thể trở thành sản phẩm du lịch nếu được tổ chức bài bản. Đây chính là lợi thế cạnh tranh dài hạn, thứ mà các đô thị hiện đại không thể có.
Homestay Phương Đức thu hút đông đảo du khách địa phương và quốc tế đến trải nghiệm.
Anh Lò Văn Đức, chủ một cơ sở homestay tại xã Mường Phăng, chia sẻ: “Khách đến Điện Biên không ít, nhưng chủ yếu đi nhanh. Nếu có thêm sản phẩm trải nghiệm, dịch vụ tốt hơn thì chắc chắn họ sẽ ở lại lâu hơn.”
Thực tế cho thấy, du lịch Điện Biên đang chuyển từ “tham quan” sang “trải nghiệm”. Và đây chính là dư địa tăng trưởng lớn nhất.
Là tỉnh biên giới với hơn 400 km đường biên, tiếp giáp Lào và gần Trung Quốc, Điện Biên có vị trí đặc biệt trong hành lang kinh tế khu vực. Các cửa khẩu như Tây Trang, A Pa Chải không chỉ mang ý nghĩa quốc phòng - an ninh, mà còn là điểm mở của giao thương quốc tế.
Thực tế cho thấy, hoạt động xuất nhập khẩu qua cửa khẩu đang phục hồi; các đề án khu kinh tế cửa khẩu được thúc đẩy; liên kết với Bắc Lào, Vân Nam (Trung Quốc), Thái Lan ngày càng mở rộng
Đồng chí Vừ A Bằng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Điện Biên chia sẻ với Báo Quân đội nhân dân về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương.
Đồng chí Vừ A Bằng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy cho biết: “Nếu hạ tầng được đầu tư đồng bộ, kinh tế biên mậu sẽ trở thành một trong những trụ cột quan trọng của Điện Biên”. Điều này đặt ra một triển vọng lớn: Điện Biên không chỉ là “điểm cuối”, mà có thể trở thành điểm trung chuyển trong phát triển kinh tế.
Không khó để nhận ra: Mọi tiềm năng của Điện Biên đều liên quan đến một yếu tố, đó là hạ tầng. Việc mở rộng Cảng hàng không Điện Biên, nâng cấp quốc lộ, đề xuất cao tốc Sơn La - Điện Biên - cửa khẩu Tây Trang… đang từng bước tháo gỡ “nút thắt lớn nhất”. Song song đó, hạ tầng số phát triển nhanh: Phủ sóng 4G đạt trên 94%, người dùng internet đạt 72%... Điều này cho phép Điện Biên tiếp cận một mô hình phát triển mới: Không đi theo đường cũ, mà “đi tắt” bằng công nghệ.
Nếu phải tìm một yếu tố mang tính quyết định, thì đó chính là vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên. Nhận diện đúng nền tảng của mọi đột phá, Đảng bộ Điện Biên không né tránh thực tế “vùng trũng”, mà nhìn thẳng vào nó. Từ đó xác định rõ: Hạ tầng là khâu đột phá; nông nghiệp - du lịch - logistics là trụ cột; phát triển theo hướng “xanh - thông minh - bền vững”. Đây không chỉ là định hướng, mà là tư duy phát triển có hệ thống.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025-2030 đánh dấu một mốc son mới trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Điện Biên.
Đảng bộ tỉnh Điện Biên xác định mục tiêu đến năm 2030: Trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc; phát triển theo hướng kinh tế xanh, thông minh, bền vững. Đây không phải khẩu hiệu, mà đã được cụ thể hóa bằng: 8 nhóm giải pháp trọng tâm; hàng loạt dự án chiến lược.
Đảng bộ tỉnh Điện Biên xác định: Từ quy hoạch, thu hút đầu tư, đến cải cách hành chính, tất cả đều được triển khai theo hướng: Nhanh hơn, rõ trách nhiệm hơn, gần dân hơn, nhất là việc quyết liệt trong thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền số… là minh chứng cho một bộ máy đang vận hành theo hướng phục vụ.
Đảng bộ tỉnh Điện Biên đã khơi dậy được một yếu tố cốt lõi: Niềm tin và sự đồng thuận của nhân dân. Từ chương trình xóa nhà tạm cho hơn 22.000 hộ, đến xây dựng nông thôn mới, tất cả đều có sự tham gia của người dân. Đây chính là “nguồn lực mềm” nhưng mang tính quyết định.
Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên Lê Văn Lương kiểm tra thực địa dự án Khu đô thị, du lịch nghỉ dưỡng và thể thao Tây Bắc phường Điện Biên Phủ.
Có thể thấy, Điện Biên hôm nay không còn là một vùng đất “đứng yên”. Một nền tảng phát triển đang dần hình thành: Kinh tế có tăng trưởng; nông nghiệp đang chuyển đổi; du lịch bắt đầu cất cánh; kinh tế biên mậu mở ra không gian mới; hạ tầng từng bước được tháo gỡ; vai trò lãnh đạo của Đảng bộ ngày càng rõ nét.
Nhưng chính từ đây, một câu hỏi lớn hơn đặt ra: Vì sao những tiềm năng ấy vẫn chưa thể chuyển hóa thành bứt phá thực sự? Đâu là những “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc đang kìm hãm sự phát triển? Trả lời những câu hỏi đó sẽ là chìa khóa để Điện Biên thoát khỏi “vùng trũng” - không chỉ bằng quyết tâm, mà bằng những giải pháp đủ mạnh, đủ trúng và đủ tầm.
(còn nữa)
Nội dung: NHÓM PHÓNG VIÊN
Ảnh: Báo Quân đội nhân dân và cộng tác viên
Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC