Tuy nhiên, trong hơn một thập niên gần đây, đồng bằng sông Hồng đã bắt đầu vượt lên, khi Đông Nam bộ có dấu hiệu chững lại. Bài viết phân tích quá trình hoán đổi vị trí của hai đầu tàu kinh tế này từ năm 2001 đến nay.
Chuyển dịch cơ cấu GRDP
Đã có một sự hoán đổi rõ nét về cơ cấu GRDP trong giai đoạn 2001-2025 (biểu đồ 1). Vào năm 2001, Đông Nam bộ (gồm các địa phương: TPHCM, Đồng Nai và Tây Ninh hiện nay) chiếm 37,6% GRDP của cả nước theo giá hiện hành, tạo ra khoảng cách 12,4 điểm phần trăm so với con số 25,2% của đồng bằng sông Hồng (gồm các địa phương: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình và Hưng Yên).
Khoảng cách này đã được rút ngắn xuống còn 11,3 điểm phần trăm vào năm 2010 khi tỷ trọng của Đông Nam bộ tăng lên 39,3% và đồng bằng sông Hồng đạt 28%.
Trong giai đoạn chín năm sau đó, đồng bằng sông Hồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, khoảng cách lúc này được rút ngắn xuống chỉ còn gần 3 điểm phần trăm khi tỷ trọng tương ứng của hai vùng vào năm 2019 là 34,6% và 31,7%.
Đến năm 2025, đã có sự đổi ngôi chính thức trong thực lực kinh tế tổng thể. Đồng bằng sông Hồng đã chiếm 33,7%, cao hơn 2,6 điểm phần trăm so với mức 31,1% của Đông Nam bộ.
Như vậy, trong hơn hai thập niên qua, cơ cấu GRDP của Đông Nam bộ đã giảm 6,5 điểm phần trăm, trong khi đồng bằng sông Hồng đã tăng tới 8,5 điểm phần trăm.
Về GRDP bình quân đầu người (biểu đồ 2), trong suốt giai đoạn 2010-2025, Đông Nam bộ luôn duy trì vị trí dẫn đầu về GRDP bình quân tuyệt đối. Tuy nhiên, khoảng cách giữa đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ đang dần được thu hẹp.
Vào năm 2001, đồng bằng sông Hồng ở mức 5,1 triệu đồng/người, bằng 38% con số 13,5 triệu đồng/người của Đông Nam bộ. Con số này vào năm 2010 lần lượt là 30,9 và 63,7 triệu đồng với tỷ lệ tương quan đạt 49%. Đến năm 2019, mức GRDP bình quân đầu người của đồng bằng sông Hồng đạt 91,3 triệu đồng, bằng 67% so với mức 135,7 triệu đồng của Đông Nam bộ.
Theo số ước tính năm 2025, GRDP bình quân đầu người của đồng bằng sông Hồng ở mức 148,3 triệu đồng, tương đương 79% so với mức 187,8 triệu đồng của Đông Nam bộ.
Kết quả của sự thu hẹp khoảng cách này được phản ánh từ tốc độ tăng trưởng bình quân GRDP/người của đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2001-2025 ở mức 15% mỗi năm, vượt trội đáng kể so với mức tăng 11,6% của vùng Đông Nam bộ.
Chuyển dịch cơ cấu thu ngân sách
Sự thay đổi về quy mô GRDP dẫn đến những biến động thậm chí còn mạnh mẽ hơn trong cơ cấu thu ngân sách giai đoạn 2001-2025 (biểu đồ 3). Vào năm 2001, Đông Nam bộ chiếm 49,4% tổng thu ngân sách của cả nước, tạo ra chênh lệch 17,1 điểm phần trăm so với con số 32,3% của đồng bằng sông Hồng.
Khoảng cách này đã được rút ngắn xuống còn 10,3 điểm phần trăm vào năm 2010 khi tỷ trọng của Đông Nam bộ giảm xuống mức 43,5% và đồng bằng sông Hồng đạt 33,2%.
Trong chín năm sau đó, đồng bằng sông Hồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tỷ trọng, khoảng cách được rút ngắn xuống chỉ còn 5,3 điểm phần trăm vào năm 2019 với tỷ trọng tương ứng là 35,8% và 41,1%.
Đến năm 2025, đã có sự đổi ngôi khi đồng bằng sông Hồng dự kiến chiếm 47%, cao hơn 13,5 điểm phần trăm so với mức 33,5% của Đông Nam bộ. Như vậy, trong 24 năm qua, tỷ trọng thu ngân sách của Đông Nam bộ đã giảm mạnh 15,9 điểm phần trăm, trong khi đồng bằng sông Hồng đã tăng tới 14,7 điểm phần trăm.
Hành trình hơn hai thập niên qua đã chứng kiến một cuộc chuyển giao vị thế giữa hai đầu tàu kinh tế lớn nhất Việt Nam. Từ một cấu trúc mà Đông Nam bộ giữ vai trò vượt trội, bản đồ kinh tế hiện nay đã định hình lại với sự đổi ngôi của đồng bằng sông Hồng.
Sự dịch chuyển về quy mô ngân sách tổng thể còn được phản ánh tương ứng qua chỉ số thu ngân sách bình quân đầu người của hai khu vực (biểu đồ 4). Vào năm 2001, đồng bằng sông Hồng ở mức 1,2 triệu đồng/người, bằng 37% con số 3,3 triệu đồng của Đông Nam bộ.
Con số của năm 2010 lần lượt là 10,2 triệu đồng và 19,7 triệu đồng với tỷ lệ tương quan đạt 52%. Tại thời điểm 2019, mức thu ngân sách bình quân của đồng bằng sông Hồng đạt 21,3 triệu đồng, bằng 64% so với mức 33,3 triệu đồng của Đông Nam bộ.
Đến năm 2025, thu ngân sách bình quân của đồng bằng sông Hồng đạt 44,4 triệu đồng, chính thức vượt qua mức 43,4 triệu đồng của Đông Nam bộ.
Kết quả của sự đảo chiều này được phản ánh từ tốc độ tăng trưởng bình quân thu ngân sách/người của đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2001-2025 ở mức 16,3% mỗi năm, cao hơn đáng kể so với mức tăng 11,4% của Đông Nam bộ.
Việc đồng bằng sông Hồng không chỉ dẫn đầu về tổng thu mà còn vượt trội về mức thu bình quân trên đầu người cho thấy sự chuyển dịch về chất của nền kinh tế phía Bắc.
Chuyển dịch cơ cấu dân số
Phân tích dữ liệu dân số giai đoạn 2001-2025 cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong phân bổ nguồn lực nhân khẩu giữa hai vùng kinh tế trọng điểm. Vào năm 2001, đồng bằng sông Hồng chiếm tỷ trọng 27,8% dân số, tạo ra khoảng cách 12,2 điểm phần trăm so với mức 15,6% của Đông Nam bộ.
Đến năm 2010, trong khi đồng bằng sông Hồng ghi nhận sự sụt giảm nhẹ tỷ trọng xuống còn 27,1%, Đông Nam bộ lại bứt phá lên mức 18,4% do tác động của luồng di cư cơ học.
Nhìn về tương lai, sự phát triển bền vững của kinh tế Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng phát huy vai trò dẫn dắt của cả hai vùng kinh tế động lực Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng.
Giai đoạn 2019-2025 chứng kiến sự gia tăng đồng thời về tỷ trọng của cả hai khu vực trong tổng thể các vùng kinh tế, tuy nhiên với đặc tính khác nhau. Tỷ trọng dân số đồng bằng sông Hồng phục hồi và đạt mức 28,5% vào năm 2025, duy trì vị thế là vùng tập trung nhân khẩu lớn nhất cả nước.
Trong khi đó, Đông Nam bộ tiếp tục nới rộng quy mô lên mức 20,8% vào năm 2025. Như vậy, trong hơn hai thập niên qua, khoảng cách về tỷ trọng dân số giữa hai vùng đã thu hẹp từ 12,2 điểm phần trăm xuống còn 7,7 điểm phần trăm, phản ánh xu hướng tập trung hóa dân cư ngày càng cao tại khu vực phía Nam so với sự ổn định tương đối của khu vực phía Bắc.
Kết luận
Hành trình hơn hai thập niên qua đã chứng kiến một cuộc chuyển giao vị thế giữa hai đầu tàu kinh tế lớn nhất Việt Nam. Từ một cấu trúc mà Đông Nam bộ giữ vai trò vượt trội, bản đồ kinh tế hiện nay đã định hình lại với sự đổi ngôi của đồng bằng sông Hồng.
Xét về sự phát triển tổng thể quốc gia, sự đổi ngôi này có những vấn đề cần được đánh giá nghiêm túc và khách quan vì thực tế so với các nước thành công hơn đã đi trước, cả hai vùng kinh tế động lực đều tăng trưởng dưới tiềm năng.
Đông Nam bộ đang đứng trước thách thức về việc suy giảm hơn nửa tỷ trọng đóng góp tương đối, đòi hỏi những đột phá mới để cải thiện năng suất.
Nhìn về tương lai, sự phát triển bền vững của kinh tế Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng phát huy vai trò dẫn dắt của cả hai vùng kinh tế động lực này.
Huỳnh Thế Du - Huỳnh Tuấn Kiệt