Một trong những điểm đáng chú ý trong các báo cáo này là áp lực từ chi phí đầu vào đang dần gây tác động tới tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Không chỉ giá nguyên vật liệu cơ bản (xăng dầu, than, quặng, nông sản) biến động, mà chi phí nhập khẩu của các doanh nghiệp còn bị đội lên đáng kể do vấn đề tỷ giá.
Các doanh nghiệp đồ uống chịu tác động tương đối đa chiều buộc nhóm này phải hy sinh một phần biên lợi nhuận gộp, đồng thời cắt giảm mạnh chi phí bán hàng, chi phí quảng cáo để không tác động quá lớn đến lợi nhuận ròng. Ảnh: ĐẠT THÀNH
Để đánh giá tác động, có thể nhìn vào ba trụ cột chi phí chính yếu nhất.
Thứ nhất, với mặt hàng năng lượng (xăng dầu và khí đốt), giá dầu thô Brent toàn cầu trong bốn tháng đầu năm 2026 liên tục dao động trong vùng 80-90 đô la Mỹ/thùng, thậm chí có thời điểm tăng vọt lên trên mức 100 đô la Mỹ/thùng.
Căng thẳng địa chính trị dai dẳng tại Trung Đông và chính sách hạn chế sản lượng của OPEC+ khiến giá năng lượng không thể hạ nhiệt. Ở trong nước, giá bán lẻ xăng dầu và giá khí đầu vào cho công nghiệp liên tục được điều chỉnh, bám sát giá thế giới.
Thứ hai, về chi phí vận tải (logistics), hệ lụy từ căng thẳng Biển Đỏ kéo dài từ cuối năm 2024 đến nay khiến cước vận tải biển toàn cầu, đặc biệt là các tuyến đi châu Âu và Bắc Mỹ, neo ở mức rất cao, khiến chi phí của doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng tăng mạnh theo.
Thứ ba, về tỷ giá, việc đô la Mỹ tăng giá so với tiền đồng trong hơn một năm qua đã trực tiếp làm tăng giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên vật liệu (hóa chất, nhựa, thức ăn chăn nuôi, linh kiện điện tử). Dù giá nguyên liệu trên thế giới có thể đi ngang, nhưng khi quy đổi ra tiền đồng, doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí cao hơn.
Lợi thế sẽ thuộc về các doanh nghiệp chủ động được nguồn nguyên liệu nội địa; các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh, nắm giữ thị phần lớn (nhóm nhựa, thép, vận tải) có khả năng đẩy chi phí đầu vào tăng sang giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng hay các doanh nghiệp có khả năng quản trị rủi ro tài chính bằng các nghiệp vụ hedging (bảo hiểm rủi ro) tỷ giá tốt, chốt được các hợp đồng mua nguyên vật liệu kỳ hạn ở vùng giá thấp...
Nhìn chung, tác động của chi phí đầu vào tăng tới các ngành khá phân hóa. Khả năng “chuyển giao chi phí” cho người tiêu dùng cuối sẽ quyết định doanh nghiệp nào có thể sống “khỏe”.
Với nhóm vận tải và hàng không, áp lực trực diện từ giá nhiên liệu là khá rõ vì nhiên liệu thường chiếm từ 30-40% tổng chi phí hoạt động của các hãng hàng không và vận tải. Trong quí 1-2026, các hãng hàng không như Vietnam Airlines (HVN) hay Vietjet Air (VJC) ghi nhận sự phục hồi về sản lượng khách nội địa và quốc tế, giúp doanh thu tăng trưởng mạnh.
Tuy nhiên, giá nhiên liệu bay Jet A1 neo cao cộng với tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng tăng (chi phí thuê mua máy bay thanh toán bằng đô la Mỹ) khiến biên lợi nhuận của những doanh nghiệp này không thể mở rộng dù doanh thu tăng (biên lợi nhuận gộp quí 1-2026 của HVN đạt 19,8% - giảm nhẹ so với cùng kỳ, còn biên lợi nhuận của VJC hầu như đi ngang quanh mức 13%).
Ngược lại, đối với nhóm vận tải biển (như HAH, PVT), do sự đóng góp của các đội tàu mới và giá cước vận tải biển (đầu ra) neo ở mức cao, các doanh nghiệp này ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng trong ba tháng đầu năm (lần lượt tăng 29% và 48% so với cùng kỳ).
Với nhóm vật liệu xây dựng (thép, xi măng), bài toán biên lợi nhuận trở nên phức tạp hơn với các nguyên liệu đầu vào như quặng sắt, than cốc, phế liệu, clinker, điện năng… Giá quặng sắt thế giới trong quí 1-2026 có những nhịp biến động khó lường do nhu cầu phục hồi chậm từ thị trường bất động sản Trung Quốc.
Trong khi đó, chi phí năng lượng (điện, than) sản xuất trong nước vẫn giữ ở mức cao. Theo đó, các doanh nghiệp đầu ngành thép như Hòa Phát (HPG) nhờ lợi thế quy mô và chuỗi khép kín (lò cao BOF) có khả năng quản trị tốt, duy trì được biên lợi nhuận gộp ở mức quanh 16%.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ lò điện (EAF) phụ thuộc vào thép phế nhập khẩu và giá điện chịu tác động tiêu cực hơn. Trong khi đó, ngành xi măng (HT1, BCC) dù có kết quả kinh doanh cải thiện trong quí 1-2026 song xu hướng tăng của giá than, clinker và chi phí vận tải kể từ sau khi chiến sự Trung Đông bùng phát được dự báo sẽ mang đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp ngành này trong các quí sắp tới.
Với nhóm nhựa xây dựng, đặc thù của ngành là giá hạt nhựa PVC (đầu vào) liên thông với giá dầu mỏ, nhưng thời điểm đầu năm 2026, nguồn cung hạt nhựa từ khu vực châu Á lại khá dồi dào.
Các doanh nghiệp đầu ngành đã tận dụng tích trữ hàng tồn kho giá rẻ. Nhờ vị thế thống lĩnh, họ giữ nguyên được giá bán đầu ra, giúp Nhựa Bình Minh (BMP) hay Nhựa Tiền Phong (NTP) tiếp tục duy trì biên lợi nhuận gộp ở mức cao kỷ lục trong quí 1-2026 (30-45%).
Với nhóm hàng tiêu dùng, các doanh nghiệp thực phẩm, đồ uống như Vinamilk (VNM), Masan (MSN), Sabeco (SAB) chịu tác động tương đối đa chiều. Mặc dù các yếu tố đầu vào như giá đường, giá bao bì, chi phí logistics nội địa và quốc tế đều tăng song các doanh nghiệp ngành này phải đối mặt với áp lực duy trì giá bán nhằm kích cầu tiêu dùng nội địa đang trong giai đoạn phục hồi.
Hệ quả là nhóm này phải hy sinh một phần biên lợi nhuận gộp, đồng thời cắt giảm mạnh chi phí bán hàng, chi phí quảng cáo để không tác động quá lớn đến lợi nhuận ròng.
Nhìn chung, việc giá chi phí nguyên liệu đầu vào tăng là một thách thức lớn với hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Song không phải cứ giá nguyên liệu tăng là doanh nghiệp sẽ gặp bất lợi.
Lợi thế sẽ thuộc về các doanh nghiệp chủ động được nguồn nguyên liệu nội địa; các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh, nắm giữ thị phần lớn (nhóm nhựa, thép, vận tải) có khả năng đẩy chi phí đầu vào tăng sang giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng hay các doanh nghiệp có khả năng quản trị rủi ro tài chính bằng các nghiệp vụ hedging (bảo hiểm rủi ro) tỷ giá tốt, chốt được các hợp đồng mua nguyên vật liệu kỳ hạn ở vùng giá thấp...
Có thể thấy, việc giá đầu vào tăng đóng vai trò như một “màng lọc”, giúp loại bỏ những mô hình kinh doanh thiếu hiệu quả và làm nổi bật những doanh nghiệp có năng lực quản trị chi phí tốt.
Đăng Linh