Bánh Cao chằng xuất hiện từ lâu đời, xuất xứ từ Trung Hoa, trong quá trình giao thương người Hoa đã mang món bánh này sang nước ta và được “cải biên” để phù hợp với khẩu vị của từng vùng. Thành phần chính để làm bánh là gạo tẻ. Gạo được chọn phải là loại già, mẩy, đều hạt, trắng và thơm. Sau khi ngâm gạo qua đêm, xay nhuyễn rồi nhào thành bột nước sền sệt, người ta dàn đều phần bột bánh vào khuôn.
Dưới lớp nhân là lớp bột gạo tẻ trắng được hấp chín vị ngon dịu nhẹ thanh mát.
Để bánh chín đều, người làm phải hấp tới ba lần, chia thành ba lớp bột hấp cách thủy. Lần đầu đổ bột đem hấp chín xong, người làm lại thêm vào khay một lớp bột sống nữa và hấp tiếp. Bánh chín lại thêm lớp bột thứ ba, mỏng hơn và rắc phần nhân lên trên cùng. Sở dĩ phải hấp bánh thành từng lớp như vậy vì bánh khá dày, hấp làm một lần sẽ không chín đều hoặc bị nát, mất ngon.
Phần nhân bánh được làm từ thịt lợn băm nhỏ và lạc, nhiều nơi cho hành khô nhân được xào chín sẽ phết một lớp mỏng lên trên để mặt bánh không bị khô, mùi vị đậm đà hơn bánh chín cắt từng miếng bỏ vào chiếc bát nhỏ, chan nước canh hầm từ xương lợn, thêm hành mùi và 1 chiếc giò nhỏ là đủ làm thực khách mê mẩn. Giữa tiết trời lạnh, tan trong miệng là phần bánh mềm mịn, vị thanh đạm của gạo xen lẫn thịt băm, lạc, ai không thích dùng canh thì chấm bánh với nước mắm pha giấm ngâm tỏi ớt hoặc tương ớt. Bánh cao chằng hợp để ăn buổi sáng hoặc lót dạ buổi chiều.
Bánh Cao chằng ngon nhất là khi ăn nóng. Miếng bánh mềm dẻo, mát tay, quyện cùng vị bùi béo của lạc, ngọt dịu mà không gắt. Không phải cái ngọt sắc của bánh kẹo phố thị, mà là vị ngọt hiền lành, chậm rãi, giống như chính nhịp sống của con người Cao Bằng.
Trong những phiên chợ vùng cao, bánh Cao chằng thường được bày bán khiêm nhường trên những mẹt tre nhỏ như một món quà để người lớn mua về cho trẻ nhỏ. Không cần lời mời chào rộn ràng, chỉ cần làn khói mỏng bay lên từ nồi bánh hấp cũng đủ níu chân bao người qua lại.
Bánh ăn kèm với giò và nước hầm xương là ngon đậm vị nhất.
Quỳnh Nha