Một góc thành phố Đà Nẵng nhìn từ phường Ngũ Hành Sơn. Ảnh: KIM LIÊN
Với nhiều trăn trở về định hướng phát triển, về tìm động lực mới, về phát huy tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, xây dựng nguồn lực nội sinh của văn hóa, việc nghiên cứu xây dựng một “Công viên văn hóa xứ Quảng” là một vấn đề cần suy nghĩ. Công viên không dựa trên chức năng giải trí thuần túy, mà nó là một “hệ sinh thái thực nghiệp”, xuất phát từ tư tưởng “Chi bằng học”, từ thực tế phong trào Duy tân và đặc trưng văn hóa xứ Quảng đã được đúc kết của thành phố Đà Nẵng mới.
Câu chuyện cần quan tâm trong quy hoạch thành phố mới
Việc nghiên cứu không gian văn hóa này cần thực hiện song hành, hay đúng hơn nó nên là, phải là một thiết chế trung tâm tại khu đô thị mới trong quy hoạch của thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất, một giải pháp quy hoạch văn minh để đối trọng với sự “bê tông hóa”, “thiếu hồn” của các khu hành chính, đô thị mới hiện nay.
Công viên cần đặt tại ví trí có thể kết nối dễ dàng khi thiết lập, nâng cấp các tuyến đường huyết mạch từ trung tâm Đà Nẵng cũ đến các di sản (Hội An, Mỹ Sơn, Đồng Dương, Tam Kỳ...) và có ý nghĩa phân bố lại không gian phát triển, là một cách để tạo động lực mới. Vừa giải quyết bài toán không gian công cộng của một đô thị, vừa tạo “bản sắc đô thị” cho một đô thị mới; là không gian mở, nơi người dân có thể tham gia hoạt động văn hóa. Công viên đóng vai trò là “lá phổi xanh”, không gian thoát nước tự nhiên và điều hòa nhiệt độ cho khu đô thị mới, đáp ứng tiêu chuẩn về đô thị xanh, đô thị thông minh mà Đà Nẵng đang hướng tới.
Vậy thì, việc lấy tư tưởng “Chi bằng học” của Phan Châu Trinh làm kim chỉ nam cho mô hình Công viên văn hóa xứ Quảng là gì? Tôi cho rằng, trong lịch sử văn hóa vùng đất xứ Quảng, đến đầu thế kỷ 20, cùng với các nhân vật “Ngũ phụng tề phi”, sự xuất hiện của Phan Châu Trinh đã góp phần định hình rõ nét bản sắc văn hóa con người xứ Quảng. Bởi vậy, việc lấy tư tưởng này làm “xương sống” để phác họa mô hình công viên tại một khu đô thị mới không chỉ là sự lựa chọn mang tính biểu tượng, mà là một quyết định có cơ sở khoa học về phương diện văn hóa, giáo dục, kinh tế và bài học về liên kết và tạo dựng không gian văn hóa mới.
Trong quy hoạch Đà Nẵng mới, thiết nghĩ một bài toán được đặt ra là xây dựng “chất” cho phát triển đô thị, trong đó nếu không quan tâm phù hợp sẽ dẫn đến sự lấn át của bê tông hóa, thiếu cái hồn cho đô thị mới. Qua đó, xây dựng “sức mạnh nội sinh” thay vì chỉ dựa vào các dự án bất động sản thuần túy, đó cũng là một sự “Duy tân” cho quy hoạch Đà Nẵng thế kỷ 21.
Công viên là một “thiết chế văn hóa sống”, nơi tư tưởng Duy tân được hiện thực hóa bằng mô hình kinh tế di sản. Nó phải được thực hành và lan tỏa; không chỉ là hiện vật, mà chính là nghệ nhân và du khách; công viên phải có khả năng tự vận hành kinh tế, tạo ra lợi nhuận để bảo tồn chính nó.
Công viên văn hóa với ba trụ cột
Công viên văn hóa xứ Quảng có thể bám sát 3 trụ cột: “Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh.
Trong phân khu khai dân trí, theo tôi, trước hết cần hiểu khái niệm “khai dân trí” ngày nay không thể dừng lại ở việc đọc sách, tìm hiểu tri thức thuần đơn, mà phải là tương tác và phản biện.
Trong phân khu này, ít nhất có 2 tiểu khu (2 không gian kết nối nhau): Trung tâm dữ liệu Duy tân, với việc xây dựng một thư viện số, ứng dụng công nghệ Hologram và VR, truyền tải các nội dung trọng tâm như tái hiện các buổi diễn thuyết của cụ Phan, nơi giới thiệu các học thuyết kinh tế, chính trị tinh hoa của thế giới mà cụ Phan từng kỳ vọng đồng bào tiếp cận đầu thế kỷ 20, từ đó làm nền tảng cho không gian này trong việc giới thiệu, quảng bá giá trị di sản cụ Phan; đồng thời giới thiệu các giá trị, các tác phẩm, nhân vật lịch sử liên quan đến phong trào Duy tân.
Diễn đàn “Tiếng dân”, với trọng tâm xây dựng một không gian tranh biện văn minh, nơi tổ chức các buổi tọa đàm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, trò chuyện, hội thảo, giới thiệu sách… dành cho giới trẻ, nối tiếp tinh thần học thuật khai phóng (có thể làm thư viện chuyên đề về xứ Quảng trong không gian này). Không gian này cần đưa ra thông điệp nuôi dưỡng tinh thần “sĩ phu hiện đại”, những người dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước công việc chung, sự “vươn mình” của dân tộc.
Kết nối các tiểu không gian này có thể là khu vườn danh nhân xứ Quảng, để vừa tái tạo nhuệ khí dân tộc thông qua những hành động cụ thể, đời thường nhưng mang tính cách mạng, vừa tôn vinh các anh hùng, sĩ phu yêu nước, các bậc danh nhân tài danh của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, vừa là không gian có tính giáo dục, nghệ thuật.
Trong phân khu chấn dân khí, trước hết chúng ta thấy rõ một sự đối lập giữa một bên là “hư danh, phú quý, xe ngựa, vợ hầu” của lối sống cam chịu, nô lệ; và một bên là “phẩm giá, tinh thần tự trọng, lòng yêu nước” bất chấp xiềng xích, tù đày; là nghĩa đồng bào để cùng chung sức gánh vác trách nhiệm với nước, với dân. Trọng tâm phân khu này có thể nghiên cứu được thiết kế để tạo một khí thế, vì một Việt Nam phát triển, tự cường.
Không gian “đối diện bản ngã”, với việc tạo ra hai không gian đối lập hoàn toàn giữa hai thái cực nêu trên. Sử dụng màn hình cảm ứng để khách tham quan tra cứu tài liệu về sự kiên trung của các nhà yêu nước. Điểm nhấn là bức tranh, phù điêu tái hiện cảnh cụ Phan đập đá ở Côn Đảo với khí phách hiên ngang, biến nhà tù thành trường học. Thông điệp là làm cho mỗi người có tinh thần tự vấn về giá trị của tự do và phẩm giá con người; sự đắc chí không nằm ở vật chất mà nằm ở việc dám sống, có trách nhiệm xã hội. Trục đường “Duy tân” nằm giữa hai bên của không gian “đối diện bản ngã”, dựa trên mục tiêu, triết lý để tạo nên dân khí: “chung sức gánh vác trách nhiệm với nước, với dân”.
Tôi nghĩ rằng, việc trưng bày có tính tương tác theo trường phái ấn tượng này không chỉ kể chuyện quá khứ mà trực tiếp tác động vào suy nghĩ của người trẻ, người tham quan, với thông điệp cần thực học, đừng bị “ám muội bởi hư danh” (như sự hào nhoáng ảo trên mạng xã hội, tư duy hưởng thụ) mà hãy tập trung vào “nhuệ khí” và “trách nhiệm”; làm cho con người có lòng tự trọng và khát vọng cống hiến thay vì chỉ biết vun vén cá nhân, sợ trách nhiệm.
Xin nói thêm, trong phân khu này nếu có thể mở rộng thì nghiên cứu xây dựng Bảo tàng Biển đảo. Kiến trúc bảo tàng mô phỏng hình ảnh “Cánh buồm Duy tân” hoặc “Thuyền thúng khổng lồ” (thúng chai - một phương tiện độc đáo miền Trung), sẽ tạo ra hiệu ứng thị giác cực mạnh, trở thành biểu tượng cho thành phố mới.
Trong phân khu hậu dân sinh, với mục đích để công viên tồn tại bền vững, nó phải tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp cho cộng đồng theo đúng tinh thần “thực nghiệp” của cụ Phan. Vì vậy, ít nhất nó cũng có các không gian sau:
Chuỗi giá trị Làng nghề thực học, với các xưởng sản xuất thực tế cho gốm Thanh Hà, đúc đồng Phước Kiều, lụa Mã Châu... Tuy nhiên, thay vì sản xuất kiểu cũ, cần thiết kế các “Vườn ươm sáng tạo”. Tại đây, các nhà thiết kế trẻ sẽ làm việc cùng nghệ nhân để tạo ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao (ví dụ: gốm decor cho nội thất sang trọng, lụa dùng trong thời trang cao cấp). Đây là cách chúng ta tạo ra “giá trị thặng dư” cho di sản.
Hệ sinh thái ẩm thực di sản: Ẩm thực xứ Quảng (mỳ Quảng, cao lầu, bánh tráng cuốn thịt heo...) sẽ được nâng tầm thành một ngành kinh tế trải nghiệm. Đây là chỗ du khách được học cách tráng bánh, học cách nấu nước nhưn từ những đầu bếp địa phương. Đây là cách “hậu dân sinh” cho những người lao động trực tiếp, giúp họ sống tốt bằng nghề truyền thống.
Cửa ngõ đặc sản OCOP, với sàn giao dịch nông sản cao cấp của xứ Quảng, từ sâm Ngọc Linh đến nước mắm truyền thống, ứng dụng truy xuất nguồn gốc để nâng cao giá trị thực của tài nguyên bản địa.
Các bảo tàng chuyên đề khác: Bảo tàng Kim hoàn (xứ Quảng được xem là xứ sở của vàng); Bảo tàng tre, Bảo tàng chiếu... Bảo tàng không chỉ để ngắm, mà là nơi chứng minh giá trị của hàng hóa Việt. Đồng thời các bảo tàng này có thể kết nối trực tiếp với sàn đấu giá tranh và trang sức quốc tế.
Tư tưởng “Chi bằng học” của cụ Phan, gắn liền với biết buôn bán, biết cách kinh doanh, để dự án này không trở thành một “bảo tàng chết”, cần quản trị đa bên, với việc áp dụng mô hình đối tác công - tư. Nhà nước giữ vai trò quy hoạch và định hướng, doanh nghiệp giữ vai trò xây dựng, vận hành. Công viên phải tự nuôi sống mình và sinh lợi thông qua các dòng doanh thu thông minh, lâu dài, bền vững.
Đây chính là cụ thể hóa quan điểm “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới” theo Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Hay chính là chuyển hóa “vốn văn hóa” thành “vốn kinh tế” - chiến lược thực nghiệp xứ Quảng.
VÕ HÀ