Trong những năm gần đây, diện tích lúa tại đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng giảm, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái tăng lên. Ảnh: Hà Văn
Trong bối cảnh đó, quá trình tái cấu trúc nông nghiệp đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn, hướng tới giảm dần diện tích lúa, tăng tỷ trọng thủy sản và cây ăn trái; đồng thời chuyển sang các mô hình sản xuất bền vững, thích ứng với điều kiện tự nhiên.
GIẢM LÚA, TĂNG GIÁ TRỊ: CHUYỂN DỊCH ĐANG RÕ NÉT
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong những năm gần đây, diện tích lúa tại đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng giảm, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái tăng lên.
Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của khu vực đạt khoảng 9 tỷ USD, tiếp tục giữ vai trò là ngành hàng chủ lực. Ngành trái cây cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, với nhiều mặt hàng như sầu riêng, xoài, chuối mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tại các diễn đàn về phát triển nông nghiệp gần đây, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhiều lần nhấn mạnh định hướng chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, trong đó giá trị và hiệu quả được đặt lên hàng đầu thay vì sản lượng.
Một trong những thay đổi dễ nhận thấy là việc nhiều địa phương chủ động chuyển đổi đất lúa sang các mô hình có giá trị kinh tế cao hơn. Tại các tỉnh ven biển như Cà Mau (gồm Bạc Liêu cũ), Sóc Trăng cũ (nay là Cần Thơ), mô hình tôm- lúa đang được mở rộng, vừa tận dụng điều kiện tự nhiên, vừa giảm rủi ro do xâm nhập mặn.
Ở các vùng nước ngọt, nhiều địa phương như Đồng Tháp, Vĩnh Long chuyển sang trồng cây ăn trái, kết hợp với phát triển du lịch nông nghiệp. Mô hình này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, mà còn giúp đa dạng hóa sinh kế cho người dân.
Đặc biệt, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một bước đi quan trọng. Theo định hướng, đề án không nhằm mở rộng diện tích, mà tập trung nâng cao chất lượng, giảm chi phí và giảm phát thải, qua đó gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị diện tích.
Song song đó, các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ cũng được khuyến khích, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do cũng tạo áp lực buộc ngành nông nghiệp phải thay đổi theo hướng minh bạch, bền vững và truy xuất nguồn gốc.
ÁP LỰC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ YÊU CẦU THÍCH ỨNG
Biến đổi khí hậu đang trở thành yếu tố định hình lại cấu trúc sản xuất tại đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, sụt lún đất và thiếu nước ngọt không còn là hiện tượng bất thường, mà đang diễn ra với tần suất ngày càng cao.
Các báo cáo chuyên môn chỉ rõ trong mùa khô những năm gần đây (2016 - 2024), nhiều khu vực ven biển như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau ghi nhận độ mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp. Các địa phương vì vậy buộc phải điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và mô hình sản xuất.
Biến đổi khí hậu đang trở thành yếu tố định hình lại cấu trúc sản xuất tại đồng bằng sông Cửu Long. Trong ảnh: Hạn hán tại Ba Tri (Bến Tre cũ, nay là Vĩnh Long). Ảnh: T.B
Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi sang các mô hình thích ứng như tôm-lúa, nuôi trồng thủy sản nước lợ, hoặc trồng các loại cây chịu mặn đang trở thành xu hướng tất yếu. Các công trình thủy lợi, kiểm soát mặn, trữ nước ngọt cũng được đầu tư nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi.
Tại các hội nghị về phát triển vùng, lãnh đạo Chính phủ nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bằng sông Cửu Long theo hướng “thuận thiên”, tức là thích ứng với điều kiện tự nhiên thay vì cố gắng thay đổi nó. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện, từ quy hoạch, hạ tầng đến mô hình sản xuất.
Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với tình trạng sụt lún đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn. Những vấn đề này có mối quan hệ, tác động qua lại với nhau và đều liên quan đến nguồn nước.
Đây là vấn đề rất quan trọng, liên quan đến sinh kế, đời sống của người dân đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm tới 12,8% diện tích, gần 18% dân số cả nước, đóng góp 95% sản lượng gạo xuất khẩu, 60% thủy sản, 65% sản lượng trái cây xuất khẩu của cả nước. Chính vì vậy, các giải pháp “thuận thiên”, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long nhiều lần đã được nêu ra.
Có thể thấy, quá trình chuyển đổi nông nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mà là sự thay đổi sâu sắc trong cách tiếp cận phát triển, gắn với thị trường và điều kiện tự nhiên.
Anh Khuê