Đông – Tây y kết hợp điều trị ung thư: Chuyên gia TP.HCM nói gì?

Đông – Tây y kết hợp điều trị ung thư: Chuyên gia TP.HCM nói gì?
2 giờ trướcBài gốc
Ung thư từ lâu vẫn được xem là một trong những “bản án” nghiệt ngã nhất của y học hiện đại. Không chỉ là cuộc chiến với những khối u ác tính, người bệnh còn phải đối mặt với nỗi đau thể xác, sự suy kiệt tinh thần và áp lực kéo dài trong suốt quá trình điều trị. Trong hành trình ấy, nhiều người tìm đến y học cổ truyền như một điểm tựa hy vọng. Tuy nhiên, giữa vô vàn lời truyền miệng về những “thần dược” chữa khỏi ung thư, giới chuyên gia nhấn mạnh rằng vai trò thực sự của y học cổ truyền không nằm ở phép màu, mà ở khả năng hỗ trợ điều trị toàn diện, nâng đỡ thể trạng và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
Vì sao y học cổ truyền được xem là “mảnh ghép” quan trọng trong điều trị ung thư?
Theo y học cổ truyền, khái niệm “ung thư” thời xưa không đồng nghĩa hoàn toàn với bệnh ung thư ác tính như cách hiểu của y học hiện đại ngày nay. Trong Đông y cổ điển, “ung” dùng để chỉ các loại nhọt sưng nóng, đỏ đau, dễ hóa mủ và dễ lành sau khi vỡ mủ. Ngược lại, “thư” là dạng nhọt chìm sâu dưới da, tiến triển âm thầm, khó tiêu, khó lành và nguy hiểm hơn nhiều.
TS-BS Trương Thị Ngọc Lan cho biết y học cổ truyền không thay thế Tây y, nhưng có vai trò quan trọng trong hỗ trợ điều trị ung thư, giảm tác dụng phụ và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Ảnh: minh họa.
Chính sự mô tả này khiến nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng y học cổ truyền từ hàng nghìn năm trước đã phần nào nhận biết được những dạng tổn thương tương tự khối u ác tính. Từ thời Ân Chu, các văn tự khắc trên mai rùa đã ghi nhận khái niệm về “u”. Đến thời Hán, danh y Hoa Đà cho rằng căn nguyên hình thành u cục là do “tạng phủ tích độc không thoát”. Đây được xem là một trong những nhận thức sớm về cơ chế bệnh lý kéo dài và tích tụ trong cơ thể.
Theo TS-BS Trương Thị Ngọc Lan – Phó giám đốc Viện Y dược học dân tộc TP.HCM, dù cách gọi và hệ quy chiếu khác nhau, nhưng điểm giao thoa giữa Đông y và Tây y hiện đại là đều nhìn nhận ung thư như một quá trình rối loạn kéo dài, liên quan đến sự suy yếu toàn thân và mất cân bằng chức năng sống.
Trong thực tế lâm sàng, điều khiến nhiều bệnh nhân ung thư kiệt quệ không chỉ là bản thân khối u mà còn là tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị hay phẫu thuật. Người bệnh thường rơi vào tình trạng suy nhược, mất ngủ, chán ăn, đau kéo dài, suy giảm miễn dịch và khủng hoảng tâm lý.
Đây chính là khoảng trống mà y học cổ truyền có thể tham gia hỗ trợ hiệu quả.
Theo TS-BS Trương Thị Ngọc Lan, y học cổ truyền không tập trung “tiêu diệt” trực tiếp tế bào ung thư như Tây y, mà hướng đến phục hồi trạng thái cân bằng của cơ thể. Trong Đông y, cơ chế bệnh sinh của ung thư thường liên quan đến bốn yếu tố chính gồm khí trệ huyết ứ, nhiệt độc tích tụ, đàm thấp kết tụ và chính khí suy yếu.
Từ đó, nguyên tắc điều trị được xây dựng dựa trên hai trục chính là “phù chính” và “khu tà”. “Phù chính” tức nâng đỡ chính khí, cải thiện thể trạng, tăng sức chống chịu cho cơ thể. “Khu tà” là hỗ trợ loại bỏ các yếu tố bệnh lý gây tổn thương kéo dài.
“Điều quan trọng nhất là giúp bệnh nhân duy trì được sức khỏe nền tảng để có thể tiếp tục các phác đồ điều trị hiện đại. Khi thể trạng được cải thiện, khả năng đáp ứng điều trị cũng tích cực hơn”, TS Lan nhận định.
Kết hợp Đông – Tây y: Xu hướng điều trị được nhiều quốc gia theo đuổi
Hiện nay, mô hình điều trị tích hợp đang trở thành xu hướng ở nhiều quốc gia có nền y học phát triển. Tây y giữ vai trò chủ lực trong việc phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc điều trị nhắm trúng đích nhằm kiểm soát khối u. Trong khi đó, y học cổ truyền đóng vai trò hỗ trợ giảm triệu chứng, hạn chế tác dụng phụ và cải thiện chất lượng sống.
Tại Việt Nam, Viện Y dược học dân tộc TP.HCM là một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng mô hình này thông qua “Liệu pháp 4T”, gồm tập luyện, thức ăn, tâm lý và thuốc cùng các kỹ thuật không dùng thuốc.
Theo TS-BS Trương Thị Ngọc Lan, hiệu quả của điều trị ung thư không chỉ nằm ở thuốc mà còn phụ thuộc lớn vào tinh thần, dinh dưỡng và khả năng thích nghi của cơ thể. Một bệnh nhân giữ được tâm lý ổn định, ngủ ngon, ăn được và vận động phù hợp sẽ có cơ hội phục hồi tốt hơn đáng kể.
Bên cạnh các bài thuốc uống, nhiều kỹ thuật như châm cứu, cấy chỉ, xoa bóp hay nhĩ châm cũng được áp dụng nhằm hỗ trợ giảm đau, cải thiện giấc ngủ, giảm buồn nôn sau hóa trị và nâng cao chất lượng sống.
Một trong những lý do khiến y học cổ truyền ngày càng được quan tâm là nhiều dược liệu đã được nghiên cứu bằng khoa học hiện đại và cho thấy tiềm năng hỗ trợ điều trị ung thư.
Tam thất chứa nhóm hoạt chất Ginsenosides và Notoginsenosides được nghiên cứu trên các dòng ung thư phổi, đại trực tràng và gan. Curcumin trong nghệ được đánh giá có khả năng hỗ trợ ức chế quá trình viêm và tăng sinh tế bào bất thường. Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên hay Trinh nữ hoàng cung cũng là những dược liệu được nhiều công trình nghiên cứu nhắc đến nhờ tiềm năng tác động lên tế bào ung thư.
Tuy nhiên, TS-BS Trương Thị Ngọc Lan cảnh báo người bệnh không nên tự ý sử dụng các bài thuốc truyền miệng hoặc bỏ điều trị chính thống để theo đuổi “thuốc gia truyền”. Việc sử dụng dược liệu cần có chỉ định và theo dõi chuyên môn, bởi không phải mọi loại thảo dược đều an toàn khi kết hợp với hóa trị hay thuốc điều trị ung thư.
Giới chuyên gia nhấn mạnh rằng y học cổ truyền không thể thay thế vai trò của y học hiện đại trong điều trị ung thư. Tuy nhiên, khi được ứng dụng đúng cách và phối hợp khoa học, Đông y có thể trở thành “lá chắn thép” giúp người bệnh vượt qua hành trình điều trị khắc nghiệt.
Trong cuộc chiến chống ung thư, điều người bệnh cần nhất không chỉ là kéo dài sự sống, mà còn là duy trì chất lượng sống và niềm hy vọng. Sự kết hợp giữa Đông và Tây y đang cho thấy một hướng tiếp cận nhân văn hơn, toàn diện hơn và ngày càng được cộng đồng y khoa nhìn nhận như một xu hướng tất yếu của y học hiện đại.
Hồ Quang
Nguồn Một Thế Giới : https://1thegioi.vn/dong-tay-y-ket-hop-dieu-tri-ung-thu-chuyen-gia-tp-hcm-noi-gi-251821.html