Ngân hàng không chỉ cho vay mà còn đồng hành, tư vấn để bà con nông dân nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Tây Nguyên sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, ký ức về một vùng đất “xa và khó” vẫn còn in sâu trong những ai từng biết đến nơi này. Nhưng giờ đây “vùng đất chết” ấy đã lùi xa vào quá khứ. Những con đường đất đỏ ngày nào giờ đã được nối dài bằng nhựa phẳng lì, len qua những buôn làng, vượt qua triền đồi, dẫn vào những vùng chuyên canh cây công nghiệp bạt ngàn. Những cung đường đèo dốc như An Khê, Mang Yang, một thời nghe đến ai cũng rùng mình, nay dần được thay thế bằng các dự án cao tốc như Nha Trang - Buôn Ma Thuột, Pleiku - Quy Nhơn đang từng bước hình thành và hoàn thiện...
Mùa này giữa đại ngàn, hương hoa cà phê nở muộn lan nhẹ. Gió thổi qua những rẫy hồ tiêu, những vườn sầu riêng, bơ, chanh dây… mang theo hơi thở của “vùng đất thép” trong kháng chiến, nay đang hồi sinh mạnh mẽ. Giữa không gian ấy, có một dòng chảy âm thầm mà bền bỉ, là dòng vốn tín dụng ngân hàng đang nuôi dưỡng từng mầm sống, từng mùa quả ngọt, góp phần hồi sinh vùng đất từng chịu nhiều mất mát sau chiến tranh.
***
Tây Nguyên từng là nơi đi qua những năm tháng khốc liệt. Trong ký ức của lớp người đi trước, đây là chiến trường ác liệt, ghi dấu bởi những trận đánh mang tính bước ngoặt như Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, trận đánh Buôn Ma Thuột (10-11/3/1975), đòn “điểm huyệt” chiến lược khiến hệ thống phòng thủ của chế độ cũ tại Tây Nguyên sụp đổ, mở đường cho đại thắng mùa Xuân năm ấy.
Nơi đây từng là “rừng che bộ đội”, nơi đất đỏ thấm mồ hôi và máu. Sau ngày thống nhất, Tây Nguyên dần bước vào hành trình tái thiết với muôn vàn khó khăn: thiếu vốn, thiếu hạ tầng, thiếu cả niềm tin vào sản xuất hàng hóa. Rồi thời gian trôi, cùng với những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, dòng vốn ngân hàng bắt đầu len lỏi về tận buôn làng. Ban đầu chỉ là những khoản vay nhỏ, nhưng theo năm tháng, nguồn vốn ấy lớn dần, mở lối cho nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa hình thành.
Ở Đắk Lắk, nơi được mệnh danh “thủ phủ cà phê” của cả nước, những đồi cà phê trải dài như tấm thảm xanh bất tận. Tại các vùng sản xuất chuyên canh như Cư M’gar, Cư Kuin, mùa thu hoạch là mùa của những nụ cười. Những bao cà phê đầy ắp, sân phơi rộn ràng, tiếng máy tách hạt, tiếng xe công nông… rộn ràng nhịp sống sôi động giữa đại ngàn.
Chị H’Duh ở buôn Tiêu, xã Ea Tiêu (Đắk Lắk), một nông dân người Êđê, đứng giữa vườn cà phê, chậm rãi kể: “Ngày trước, gia đình mình nghèo lắm, chỉ đi làm thuê cho nông trường. Muốn trồng cà phê mà không có vốn, không có đất. Nhờ cha mẹ chia được ít đất, tích góp mua thêm, rồi được ngân hàng cho vay, mình mới dám làm. Từ vài sào ban đầu, giờ gia đình có hơn 2,5ha cà phê, thêm tiêu và sầu riêng. Cuộc sống đỡ vất vả hơn nhiều”. Chị nói rồi đưa tay vuốt nhẹ những trái sầu riêng đang độ lớn, như nâng niu thành quả của bao năm cần mẫn. Mỗi hạt cà phê là kết tinh của cả một hành trình của đất, của người và của những đồng vốn được trao đúng lúc.
Ông Lê Văn Thịnh, Giám đốc Agribank Đắk Lắk chia sẻ: “Chúng tôi luôn xác định ‘tam nông’ là trọng tâm. Với cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su, người dân cần nguồn vốn lớn và ổn định. Ngân hàng không chỉ cho vay mà còn đồng hành, tư vấn để bà con sản xuất hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng đến phát triển bền vững”. Không chỉ cà phê, những năm gần đây, Tây Nguyên chứng kiến làn sóng chuyển đổi mạnh sang các loại cây trồng giá trị cao.
Tại xã Krông Pắc (Đắk Lắk), những vườn sầu riêng xanh mướt đang trở thành “vàng xanh” của người dân. Bà Bành Thị Thu, một người con Nghệ An vào lập nghiệp hơn hai chục năm trước, chia sẻ trong niềm phấn khởi: “Trồng sầu riêng phải đầu tư lớn, từ giống đến hệ thống tưới. Nhờ vay vốn ngân hàng, gia đình mạnh dạn làm. Giờ mỗi năm thu hàng tỷ đồng, đời sống thay đổi hẳn”. Không chỉ trồng, gia đình bà Thu còn đầu tư máy móc chế biến sầu riêng cấp đông phục vụ xuất khẩu. “Mỗi vụ thu mua trên 1.000 tấn. Loại đẹp xuất tươi, còn lại chế biến. Có được như hôm nay là nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ ngân hàng”, bà Thu nói.
Còn ở Krông Năng, những mô hình cà phê xen mắc ca đang lan rộng và mang lại hiệu quả cao. Những hàng mắc ca chen giữa cà phê, vừa tận dụng đất, vừa tăng thu nhập. Anh Nguyễn Văn Hùng chia sẻ: “Có vốn vay, mình chuyển sang trồng xen. Thu nhập ổn định hơn, không còn phụ thuộc vào một loại cây. Nhất là lúc giá nông sản xuống thấp, vốn ngân hàng giống như ‘bà đỡ’, giúp mình kịp thời xoay xở chi phí phân bón, tưới tiêu, nhân công”. Dòng vốn ngân hàng cũng lan tỏa mạnh mẽ sang Gia Lai, nơi những cánh đồng mía trải dài, những vườn bơ, chanh dây trĩu quả.
Ông Phạm Văn Tư, một nông dân trồng chanh dây chia sẻ: “Trước đây trồng sắn, thu nhập thấp. Nhờ vay vốn ngân hàng, gia đình chuyển sang chanh dây, đầu tư bài bản. Giờ kinh tế khá lên, con cái được học hành đầy đủ”. Tại Đắk Đoa (Gia Lai), bà Phan Thị Tuyết cho biết: “Gia đình trồng cà phê, hồ tiêu và làm thêm hoa lan giống công nghệ cao nên rất cần vốn. Nhờ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, chúng tôi có điều kiện mở rộng sản xuất”. Đây cũng là câu chuyện chung của hàng ngàn nông hộ nơi đây, khi tín dụng ngân hàng trở thành “đòn bẩy” giúp nông dân vươn lên làm giàu.
Ông Lý Anh Đào, Giám đốc SHB Gia Lai cho biết: “Chúng tôi tập trung vốn vào các cây trồng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, mía đường, chanh dây… Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp chế biến, xây dựng chuỗi giá trị. Khi chuỗi được hình thành, nông dân là người hưởng lợi trực tiếp”. Song song với đó, tín dụng chính sách đóng vai trò như “cánh tay nối dài” đưa cơ hội đến với những người yếu thế, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Đào Thái Hòa, Giám đốc NHCSXH tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Chúng tôi đưa vốn đến tận buôn làng, giúp người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất. Không chỉ cho vay mà còn hướng dẫn sử dụng vốn hiệu quả, từ đó nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống”. Ông Hòa nói thêm, năm 2025, tổng dư nợ của chi nhánh đạt hơn 14.463 tỷ đồng, tăng trưởng 12,61%, với 252.006 khách hàng còn dư nợ. Điều đáng trân trọng hơn cả là hiệu quả xã hội mà dòng vốn chính sách mang lại. Trong năm, có 74.698 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn; 23.350 lao động có việc làm mới hoặc được duy trì việc làm; 42.911 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được xây dựng, góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân vùng khó khăn.
Ở tầm vĩ mô, sự vào cuộc của hệ thống ngân hàng đã tạo nên lực đẩy quan trọng cho kinh tế Tây Nguyên. Ông Nguyễn Kim Cương, Quyền giám đốc NHNN chi nhánh Khu vực 11 nhấn mạnh: “Ngành Ngân hàng luôn bám sát chỉ đạo của Thống đốc NHNN, triển khai đến các TCTD ưu tiên nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, trong đó chú trọng nông nghiệp, nông thôn. Việc mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng, đảm bảo hiệu quả và bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và các địa phương”.
Theo ngành nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk, ngành tiếp tục khẳng định vai trò “bệ đỡ” của nền kinh tế, trong đó nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ quan trọng, tạo đà cho giai đoạn phát triển mới. Do vậy, ngành nông nghiệp cần tiếp tục khắc phục hạn chế, đẩy mạnh xây dựng vùng sản xuất tập trung, nâng cao chất lượng, hướng đến quy mô lớn phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Chiều xuống đại ngàn. Nắng rơi chậm trên những triền cà phê, nhuộm vàng những vườn sầu riêng, bơ, chanh dây. Tiếng cười nói rộn ràng của mùa thu hoạch hòa cùng tiếng xe chở nông sản đi xa. Hơn nửa thế kỷ một hành trình không dài so với lịch sử, nhưng đủ để một vùng đất đổi thay.
Từ chiến trường khốc liệt năm xưa, Tây Nguyên hôm nay trở thành vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn, với những sản phẩm vươn ra thế giới. Và trong hành trình ấy, có một dòng chảy không bao giờ ngừng, đó chính là dòng vốn ngân hàng, lặng lẽ thấm sâu vào đất, vào người, nuôi dưỡng những mùa quả ngọt. Giữa đại ngàn, dòng vốn ấy vẫn tiếp tục chảy, như mạch nguồn của niềm tin và hy vọng, góp phần làm nên một Tây Nguyên trù phú, bền vững và đầy khát vọng vươn xa.
Công Thái