Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày tham luận. Ảnh: dangcongsan.vn
Sáng 21.1, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Đảng bộ Bộ Xây dựng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã trình bày tham luận với chủ đề Đột phá mạnh mẽ phát triển kết cấu hạ tầng trong kỷ nguyên mới.
Chuyên mục đặc biệt về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Mở đầu tham luận, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh: dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự giám sát của Quốc hội; sự điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, ngành xây dựng thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả nổi bật.
Ngành xây dựng ước đạt mức tăng trưởng trên 9%, đóng góp khoảng 17,1% GDP, tương đương gần 1,96 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP chung của cả nước. Những con số ấy, theo Bộ trưởng, cho thấy quy mô, tốc độ và hiệu quả đầu tư hạ tầng đã được nâng lên rõ rệt, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của kết cấu hạ tầng trong phát triển kinh tế – xã hội.
Hạ tầng giao thông: bước tiến về quy mô và năng lực
Một trong những điểm nhấn được Bộ trưởng Trần Hồng Minh dành nhiều thời gian phân tích là hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia. Trong những năm qua, hạ tầng giao thông đã có bước phát triển mạnh mẽ, đồng bộ hơn, với nhiều dự án trọng điểm hoàn thành vượt tiến độ.
Đến hết năm 2025, Việt Nam đã đưa vào khai thác 3.345 km tuyến chính cao tốc và 458 km nút giao, đường dẫn; hoàn chỉnh 1.701 km đường ven biển và 1.584 km đường quốc lộ. Đây là những con số cho thấy tốc độ phát triển hạ tầng giao thông chưa từng có trong nhiều giai đoạn trước.
Cùng với đường bộ, năng lực của hệ thống cảng biển và hàng không cũng được nâng lên rõ rệt. Tổng năng lực hệ thống cảng biển tăng 1,3 lần so với năm 2020, từ 730 triệu tấn lên 930 triệu tấn. Tổng công suất các cảng hàng không tăng hơn 1,6 lần, từ 92,4 triệu hành khách lên 155 triệu hành khách mỗi năm.
Đường sắt trên cao Nhổn - Ga Hà Nội. Nguồn: The Leader
Hành khách đi metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên). Ảnh: Trung Dũng
Những chuyển động đó không chỉ mang ý nghĩa về mặt công trình. Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, chính sự cải thiện đồng bộ của hạ tầng giao thông đã góp phần kéo giảm chi phí logistics từ mức 21% năm 2018 xuống còn khoảng 17% hiện nay, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Song song với các tuyến giao thông trục chính, hàng loạt dự án hạ tầng then chốt khác cũng đang được tập trung đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện. Từ việc hoàn thành nhà ga T2 Nội Bài, nhà ga T3 Tân Sơn Nhất, đến việc triển khai các dự án sân bay Long Thành, Gia Bình, Phú Quốc. Từ các tuyến đường sắt chiến lược như đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam, Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn, Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái, đến hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.HCM đang tiếp tục được triển khai nhanh chóng.
Ngày 30.11.2024, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Kết quả biểu quyết cho thấy 443/454 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành. Ảnh đồ họa: Phối cảnh đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.
Tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành - Cần Giờ sẽ biến mô hình “sống Cần Giờ - làm việc trung tâm” thành hiện thực. Ảnh minh họa: Vinspeed
Đô thị, nhà ở và hạ tầng xã hội: cải thiện điều kiện sống
Không chỉ dừng ở giao thông, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết hạ tầng xây dựng đô thị, nhà ở và hạ tầng kỹ thuật – xã hội cũng phát triển nhanh hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Không gian đô thị được mở rộng, hình thành các vùng đô thị hóa và các cực tăng trưởng mới. Nhiều khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch – dịch vụ được đầu tư tương đối đồng bộ. Các hệ thống thiết yếu như cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng, công viên cây xanh từng bước được nâng cấp.
Đặc biệt, các chương trình nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, chỉnh trang và tái thiết đô thị được thúc đẩy mạnh mẽ. So với năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 45%, tăng 5%. Tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt 94%, tăng 3%. Diện tích nhà ở bình quân đạt 30 m² sàn/người, tăng 5,6 m².
Cả nước đã triển khai hơn 687.000 căn nhà ở xã hội; xóa được 334.200 căn nhà tạm, nhà dột nát. Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, đây là những công trình quốc gia đặc biệt, là “công trình của ý Đảng, lòng dân”.
Diện tích nhà ở bình quân đạt 30 m² sàn/người, tăng 5,6 m². Ảnh: Trung Dũng
Nhìn thẳng vào những "điểm nghẽn"
Bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cũng dành một phần quan trọng của tham luận để chỉ ra những hạn chế còn tồn tại.
Theo ông, quy mô, chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn còn hạn chế, chưa tạo được sự bứt phá đồng đều giữa các vùng miền. Liên kết vùng, liên kết giữa đô thị – nông thôn, đô thị – khu công nghiệp, cảng biển – cửa khẩu còn tồn tại nhiều điểm nghẽn.
Công tác quy hoạch hạ tầng, dù đã đi trước một bước, đôi khi vẫn rơi vào tình trạng chạy theo xử lý ách tắc trước mắt, thay vì kiến tạo những không gian phát triển mới. Nhiều đô thị lớn tiếp tục đối mặt với ùn tắc giao thông, quá tải hạ tầng kỹ thuật – xã hội, ô nhiễm môi trường, ngập úng... hay vấn đề nhà ở đô thị còn những bất cập.
Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, nếu những hạn chế này không được tháo gỡ kịp thời, chúng sẽ trở thành lực cản đối với mục tiêu đột phá kết cấu hạ tầng, ảnh hưởng đến việc thực hiện các đột phá chiến lược và mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên nhiều đô thị lớn tiếp tục đối mặt với ùn tắc giao thông, quá tải hạ tầng kỹ thuật – xã hội, ô nhiễm môi trường, ngập úng... Ảnh: Thanh Tùng
Bảy nhóm nhiệm vụ cho đột phá hạ tầng
Từ thực tiễn đó, Bộ trưởng Trần Hồng Minh đề xuất bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm tạo đột phá mạnh mẽ trong phát triển kết cấu hạ tầng thời gian tới.
Trước hết là tiếp tục đổi mới công tác xây dựng thể chế, pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, trọng tâm là cắt giảm, đơn giản hóa triệt để các thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh bất hợp lý, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp.
Cùng với đó, chủ động tham mưu, đề xuất các cơ chế thí điểm, đặc thù cho các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, rút ngắn thời gian chuẩn bị và thực hiện đầu tư; phân cấp mạnh mẽ cho địa phương trong vai trò cơ quan chủ quản đầu tư cũng như trong quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng.
“Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy hoạch ngành, hệ thống chỉ tiêu phát triển ngành với tầm nhìn dài hạn, đi trước một bước mang tính ổn định lâu dài. Đặc biệt là quy hoạch hạ tầng cảng biển, sân bay, đường thủy để dẫn dắt, định hướng công tác đầu tư phát triển hạ tầng, bảo đảm hiệu quả đầu tư, phát triển cân đối hài hòa tổng thể giữa các lĩnh vực”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, đồng thời đề nghị ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các công trình hạ tầng trọng điểm có tính lan tỏa, liên kết vùng; phát triển các dự án xây dựng xanh, giao thông phát thải thấp, vật liệu tái chế, sử dụng năng lượng hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với bảo đảm an sinh xã hội thông qua chương trình nhà ở xã hội và phát triển đô thị hiện đại.
Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, đồng thời đề nghị ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các công trình hạ tầng trọng điểm có tính lan tỏa, liên kết vùng. Ảnh: Nguyễn Minh Tú
Trong nhiệm kỳ, ngành xây dựng đặt mục tiêu hoàn thành tối thiểu 5.000 km đường cao tốc; nâng năng lực hệ thống cảng biển lên trên 1,2 tỷ tấn; hệ thống cảng hàng không trên 155 triệu hành khách; phấn đấu hoàn thành mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội sớm trước hai năm và đạt trên 1,6 triệu căn vào năm 2030; nâng tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn quốc lên 85–90% và đưa tỷ lệ đô thị hóa vượt 50%.
Một định hướng quan trọng khác là chuyển từ “huy động” sang “khơi thông và nuôi dưỡng” các nguồn lực cho đầu tư hạ tầng. Theo đó, hoàn thiện cơ chế “lấy hạ tầng nuôi hạ tầng” thông qua khai thác hiệu quả quỹ đất, tái đầu tư; phát triển các công cụ tài chính mới như trái phiếu công trình, quỹ đầu tư hạ tầng để huy động nguồn vốn trong dân và từ các định chế tài chính quốc tế.
Phát triển đô thị thông minh, giao thông thông minh, coi hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ là “hạ tầng cứng” của nền kinh tế số. Ảnh: Minh Hòa
Tư lệnh ngành Giao thông vận tải cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu là từng bước tự chủ công nghệ, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam làm chủ công nghệ thi công đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, sân bay, cảng nước sâu; trước hết trong khâu vận hành, sau đó tiến tới thiết kế, sản xuất linh kiện, vật tư, toa xe, đầu máy.
Song song là phát triển đô thị thông minh, giao thông thông minh, coi hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ là “hạ tầng cứng” của nền kinh tế số.
Hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh, thông qua việc nghiên cứu, tham gia các dự án hạ tầng khu vực, tận dụng hiệu quả các sáng kiến kết nối mà Việt Nam là thành viên. Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, thất thoát, lãng phí trong xây dựng giao thông.
Kết thúc tham luận, Bộ trưởng Trần Hồng Minh khẳng định ngành xây dựng quyết tâm phát huy truyền thống “đi trước mở đường”, hoàn thành trọng trách phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức đồng bộ, hiện đại, thông minh; xây dựng và quản lý đô thị xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển nhà ở và thị trường bất động sản, trong đó ưu tiên nhà ở xã hội và nhà ở cho người lao động gắn với hạ tầng kỹ thuật – xã hội đồng bộ.
Trọng Dân lược thuật