Đột phá phát triển văn hóa phải đi đôi với thể chế rõ ràng, khả thi

Đột phá phát triển văn hóa phải đi đôi với thể chế rõ ràng, khả thi
3 giờ trướcBài gốc
Tách quy định chế độ nghỉ làm có hưởng lương khỏi Nghị quyết
Góp ý về Điều 2 của dự thảo Nghị quyết, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho biết dự thảo quy định ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, đồng thời người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Tuy nhiên, theo đại biểu, Báo cáo thẩm tra đã nêu rõ đây là nội dung liên quan trực tiếp đến pháp luật lao động và cần được quy định trong Bộ luật Lao động để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy
Đại biểu phân tích, chế độ nghỉ làm có hưởng lương là vấn đề cốt lõi của quan hệ lao động, tác động trực tiếp đến người sử dụng lao động, người lao động, kế hoạch sản xuất kinh doanh và chi phí tuân thủ. Vì vậy, nếu đưa quy định này vào một nghị quyết về phát triển văn hóa sẽ dễ tạo ra sự thiếu thống nhất trong cấu trúc của hệ thống pháp luật hiện hành.
Theo ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia thường quy định ngày nghỉ có hưởng lương trong Luật Lao động hoặc luật riêng về ngày lễ, thay vì lồng ghép vào văn bản chính sách của một lĩnh vực cụ thể. Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm tính nhất quán của hệ thống pháp luật lao động, mà còn giúp tăng tính dự báo đối với doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Từ đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng vẫn giữ việc xác lập ngày 24/11 là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, nhưng bỏ quy định “người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương” khỏi nghị quyết này. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định giao Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi Bộ luật Lao động hoặc xử lý nội dung này trong chương trình lập pháp đã dự kiến.
Rõ tiêu chí ưu đãi, thúc đẩy văn hóa số
Đối với Điều 4 về “cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa” và “tổ hợp sáng tạo văn hóa”, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú bày tỏ sự ủng hộ chủ trương phát triển cụm sáng tạo, không gian sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa; đồng thời cho rằng cần thiết nghiên cứu các cơ chế sandbox, ưu đãi thuế và ưu đãi đất đai để mở đường cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Các ĐBQH dự thảo luận tại Tổ. Ảnh: Khánh Duy
Tuy nhiên, đại biểu cho biết: Báo cáo thẩm tra đã chỉ rõ hai khái niệm này hiện chưa được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành; đồng thời cảnh báo nguy cơ trùng lặp với các chính sách ưu đãi trong Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, Luật Công nghệ cao năm 2025 và Nghị quyết số 198/2025/QH15 về phát triển kinh tế tư nhân.
Theo đại biểu, nếu chưa xác định được rõ nội hàm, tiêu chí nhận diện, cơ chế quản trị, tỷ lệ hoạt động sáng tạo tối thiểu, điều kiện chuyển đổi công năng, yêu cầu hạ tầng số và cơ chế kiểm soát chồng lặp ưu đãi, thì các mô hình này rất dễ bị lợi dụng để xin chính sách ưu đãi, trong khi bản chất có thể gần với khu thương mại, dịch vụ, khu đổi mới sáng tạo hoặc thậm chí là dự án bất động sản có gắn yếu tố văn hóa.
Đại biểu dẫn kinh nghiệm quốc tế, theo OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, diễn đàn quốc tế uy tín chuyên nghiên cứu và tư vấn chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho các quốc gia thành viên), các “cultural and creative districts” phát triển hiệu quả khi được thiết kế theo mô hình không gian – hệ sinh thái, dựa trên cụm liên kết doanh nghiệp sáng tạo, thiết chế văn hóa, không gian công cộng, hạ tầng số và tái sử dụng thích ứng công trình hiện hữu; đồng thời phải gắn với quản trị địa phương và cơ chế đánh giá tác động. OECD cũng nhấn mạnh vai trò kiến tạo, điều phối của chính quyền địa phương, cũng như tầm quan trọng của tái sử dụng di sản, bất động sản bỏ trống và đầu tư hạ tầng - tiện ích cộng đồng trong quá trình tái thiết dựa trên văn hóa. UNESCO cũng xác định sáng tạo là yếu tố chiến lược của phát triển đô thị bền vững, nhưng nhấn mạnh phải bảo đảm sự tham gia của cộng đồng và giá trị bản sắc, chứ không chỉ theo đuổi mục tiêu thương mại.
Từ đó, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị dự thảo phải làm rõ nội hàm của hai khái niệm này.
Với “cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa”, đại biểu cho rằng cần xác định rõ các điểm cốt lõi: Có ranh giới địa lý xác định; có mật độ tập trung chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp văn hóa; có hạ tầng chuyên dùng và hạ tầng số dùng chung; có liên kết chuỗi giá trị từ sáng tạo đến thương mại hóa; có chức năng hạt nhân phát triển ngành, chứ không chỉ là khu cho thuê mặt bằng. Đây phải là mô hình tập trung sản xuất, nghiên cứu – phát triển, hạ tầng dùng chung và kết nối chuỗi giá trị, do đó có thể được ưu tiên mạnh hơn về quy hoạch, đất đai, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng số.
Với “tổ hợp sáng tạo văn hóa”, theo đại biểu, đây là mô hình không gian hỗn hợp, trong đó văn hóa là lõi, còn thương mại - dịch vụ chỉ là chức năng hỗ trợ. Mô hình này có thể hình thành trong đô thị, khu dân cư, khu du lịch văn hóa hoặc tại các cụm, khu công nghiệp, nhà máy hay công trình khác được chuyển đổi công năng. Trọng tâm của mô hình là giao thoa sáng tạo, trình diễn, trưng bày, trải nghiệm và tiêu dùng văn hóa; vì vậy nên được ưu tiên nhiều hơn về chuyển đổi công năng, thuê tài sản công, phát triển không gian sáng tạo và thí điểm mô hình kinh doanh mới.
Các ĐBQH dự phiên thảo luận Tổ
Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung các nguyên tắc áp dụng chính sách ưu đãi đặc thù. Theo đó, ưu đãi phải gắn với chức năng văn hóa cốt lõi, tức là chỉ những dự án có tỷ lệ hoạt động văn hóa - sáng tạo - sản xuất nội dung - trình diễn - đào tạo - nghiên cứu phát triển văn hóa đạt ngưỡng tối thiểu mới được hưởng ưu đãi. Không nên để xảy ra tình trạng gắn tên “sáng tạo văn hóa” nhưng phần lớn diện tích và doanh thu lại đến từ bất động sản, thương mại, lưu trú hay bán lẻ.
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, có thể quy định tỷ lệ diện tích sàn hoặc quỹ đất dành cho chức năng văn hóa, sáng tạo, R&D, đào tạo, trình diễn phải đạt mức tối thiểu do Chính phủ quy định; tỷ lệ doanh thu từ hoạt động văn hóa, sáng tạo phải trở thành tiêu chí hậu kiểm. Đồng thời, ưu đãi phải dựa trên đầu ra và tác động, chuyển từ cơ chế ưu đãi trước sang ưu đãi theo kết quả. Các tiêu chí đầu ra có thể bao gồm: số doanh nghiệp, cá nhân sáng tạo hoạt động; số sản phẩm văn hóa, nội dung số, tác phẩm, chương trình được thương mại hóa; số việc làm sáng tạo mới; tỷ lệ doanh thu xuất khẩu hoặc lan tỏa du lịch văn hóa; mức đầu tư cho R&D, đổi mới sáng tạo, số hóa di sản, công nghệ sáng tạo.
Đại biểu cũng đề cập việc cho phép thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình mới. Theo đó, nếu áp dụng cơ chế sandbox thì phải làm rõ điều kiện lựa chọn, loại hình công nghệ được thử nghiệm, giới hạn thời gian, không gian, trách nhiệm giám sát và trách nhiệm pháp lý của các bên. Một số mô hình mới như phim trường ảo, bảo tàng số nhập vai, nền tảng phân phối nội dung văn hóa mới, game văn hóa gắn di sản, không gian sáng tạo số kết hợp AI… có thể được nghiên cứu áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Từ những phân tích trên, đại biểu đề xuất nên chuyển sang quy định khung theo hướng xác định khu, cụm sáng tạo văn hóa là không gian phát triển công nghiệp văn hóa, có tiêu chí về mật độ chủ thể sáng tạo, hạ tầng số, phương án bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, không gian sáng tạo công cộng, liên kết đào tạo, nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Giao Chính phủ ban hành bộ tiêu chí cụ thể, song ngay trong nghị quyết cần nghiên cứu bổ sung các nhóm tiêu chí nền tảng như chức năng chính; tỷ lệ hoạt động văn hóa sáng tạo; yêu cầu hạ tầng số; cơ chế quản trị; tiêu chí đánh giá hiệu quả.
Góp ý về Điều 10 liên quan đến chuyển đổi số, dữ liệu văn hóa số và mô hình văn hóa số mới, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng: Nhiều nghiên cứu khoa học đã đặc biệt nhấn mạnh các giải pháp như số hóa di sản, cơ sở dữ liệu di sản dùng chung, PPP trong số hóa, công nghệ blockchain cho quản lý tài sản văn hóa, chuyển đổi số trong công nghiệp văn hóa, phát triển game, phim, nội dung số và trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa. Tuy nhiên, dự thảo Nghị quyết hiện chưa làm rõ khung pháp lý về tiêu chuẩn dữ liệu và liên thông dữ liệu văn hóa; cơ chế khai thác, cấp phép, bảo vệ bản quyền trong môi trường số; cũng như cơ chế quản trị rủi ro đối với nền tảng số và chủ quyền văn hóa số.
Đại biểu dẫn các sáng kiến và chính sách của UNESCO cho thấy, số hóa di sản không thể chỉ dừng lại ở quét, lưu trữ, đưa lên mạng, mà phải đồng thời giải quyết được các vấn đề về dữ liệu, quyền, khả năng tiếp cận và tái sử dụng. Báo cáo thẩm tra cũng đã chỉ rõ bảo tàng mở, thư viện số và một số thiết chế văn hóa số khác đã được quy định trong Luật Di sản văn hóa, Luật Thư viện và pháp luật liên quan; đối với mô hình “nhà hát di động”, pháp luật hiện hành không cấm và thực tiễn đã triển khai, nên không thuộc trường hợp thật sự cần cơ chế thí điểm đặc thù.
Theo ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú, về bản chất, “thư viện số” không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới cần xin cơ chế thử nghiệm, mà là hướng phát triển đã được thừa nhận trong chuẩn mực quốc tế và trong chính quá trình chuyển đổi của ngành thư viện. Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội và Tổ chức Thư viện IFLA/UNESCO xác định sứ mệnh thư viện số là cung cấp quyền tiếp cận trực tiếp, có cấu trúc và có thẩm quyền tới các nguồn tin số và không số; đồng thời nhấn mạnh thư viện số phải bảo đảm số hóa bền vững, khả năng liên thông và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Vấn đề hiện nay không phải là “hợp pháp hóa” thư viện số, mà là xử lý các điểm nghẽn về hạ tầng công nghệ, chuẩn dữ liệu, liên thông, chia sẻ tài nguyên và năng lực vận hành, nhất là trong bối cảnh nhiều thư viện ở Việt Nam đang sử dụng các phần mềm khác nhau, không theo chuẩn trao đổi dữ liệu quốc tế, gây cản trở cho tích hợp và chia sẻ tài nguyên dùng chung.
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên họp Tổ.
"Nếu nghị quyết đưa nội dung thí điểm thư viện số mà không đi kèm yêu cầu về chuẩn dữ liệu, chuẩn liên thông, cơ chế truy cập và cơ chế bản quyền, thì phần khó nhất của quản trị thư viện số vẫn còn bỏ ngỏ", ĐBQH nhấn mạnh.
Đối với bảo tàng mở, đại biểu cho rằng: Xu hướng số hóa bảo tàng hiện nay không còn dừng ở trưng bày vật thể tại chỗ, mà đã mở rộng sang truy cập mở, dữ liệu mở, triển lãm trực tuyến, không gian tương tác, tái hiện 3D và khai thác lại dữ liệu số. Europeana hiện là nền tảng số tập hợp di sản số từ hàng nghìn cơ quan văn hóa châu Âu; Ủy ban châu Âu cũng đã phát triển Không gian dữ liệu chung của châu Âu về di sản văn hóa để cho phép bảo tàng, thư viện, lưu trữ, phòng tranh chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu di sản số trong một khung an toàn, đáng tin cậy. Theo đại biểu, quốc tế không coi bảo tàng mở là mô hình cần thí điểm, mà coi đây là hình thức triển khai của chuyển đổi số di sản, cần được điều chỉnh bằng các quy tắc về dữ liệu, bản quyền, truy cập, liên thông, bảo tồn số và an ninh thông tin. Nhiều nghiên cứu khoa học cũng tiếp cận theo hướng “thiết chế văn hóa số”, “bảo tàng mở”, “thư viện số” là kết quả của quá trình chuẩn hóa, số hóa, quản trị dữ liệu và ứng dụng AI, dữ liệu lớn, công nghệ thực tế ảo vào không gian văn hóa.
Từ đó, đại biểu đề nghị dự thảo cần được làm rõ theo hướng xác định dữ liệu văn hóa số là tài nguyên công có quản trị; bổ sung nguyên tắc liên thông, chuẩn hóa và chia sẻ có kiểm soát; quy định việc số hóa di sản phải gắn với bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan và quyền của cộng đồng nắm giữ di sản. Đồng thời, cho phép thí điểm mô hình mới nhưng phải theo cơ chế sandbox, có tiêu chí, thời hạn và đánh giá tác động cụ thể.
Đại biểu cũng đề xuất cân nhắc khoản 4 Điều 10 theo hướng: Nhà nước ưu tiên đầu tư, chuẩn hóa, liên thông và phát triển các thiết chế văn hóa số, bao gồm thư viện số, bảo tàng số, bảo tàng mở, nền tảng tiếp cận di sản số, nhà hát di động và các hình thức cung ứng dịch vụ văn hóa số phù hợp với pháp luật chuyên ngành. Đối với mô hình kinh doanh văn hóa số mới chưa được pháp luật hiện hành quy định đầy đủ, Chính phủ được tổ chức thí điểm có kiểm soát theo cơ chế sandbox trong thời hạn tối đa 5 năm; việc thí điểm phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, tiêu chí lựa chọn, cơ chế giám sát, đánh giá tác động và các yêu cầu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu, an ninh mạng và chủ quyền văn hóa số.
Diệp Anh
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/dot-pha-phat-trien-van-hoa-phai-di-doi-voi-the-che-ro-rang-kha-thi-10414320.html