Vinh dự lớn lao khi làm người đại biểu của Nhân dân
- Ngày 6/1/2026 đánh dấu kỷ niệm tròn 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. Từng có thời gian gắn bó lâu dài với Quốc hội, chắc hẳn sự kiện này sẽ gợi cho ông nhiều cảm xúc đặc biệt?
- Đó là những cảm xúc rất khó tả, vô cùng xúc động. Bởi, ngay từ những ngày đầu mới lập nước, chúng ta đã quan tâm đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân, trao cho người dân trách nhiệm với vận mệnh của mình và với đất nước thông qua việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. Các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đương nhiên là rất tự hào khi được người dân tín nhiệm bầu làm người đại diện cho ý chí, nguyện vọng trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng sau niềm tự hào đó là trách nhiệm rất lớn lao. Đọc hồi ký của các ĐBQH thời kỳ đầu, tôi thấy đều nói rằng, đó là niềm vui, tự hào nhưng cùng với đó là phải suy nghĩ xem cần làm được gì cho người dân, xứng đáng là người đại biểu của Nhân dân.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Nguyễn Mạnh Tiến. Ảnh: T.Chi
Khi được bầu làm ĐBQH Khóa XIII vào tháng 5/2011 tại tỉnh Tây Ninh, đối với tôi, việc chuyển từ một cán bộ điều hành ở địa phương sang làm đại biểu dân cử là niềm tự hào rất lớn. Lúc vận động bầu cử, tôi được tiếp xúc với hàng trăm nghìn cử tri. Vốn là cán bộ địa phương nên đi đến đâu, tôi cũng được bà con quý mến, gửi gắm tâm tư, tình cảm. Bà con mong rằng, với kinh nghiệm ở địa phương, tôi sẽ tiếp tục sát cánh cùng địa phương và có những tham mưu, kiến nghị chính sách ở tầm quốc gia dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn.
- Kinh nghiệm thực tiễn địa phương đã giúp ích gì cho ông trong quá trình tham gia vào việc hoạch định chính sách, pháp luật ở tầm quốc gia?
- Những kinh nghiệm thực tiễn tại Tây Ninh đã giúp tôi theo đuổi và kiến nghị nhiều chính sách ở mức độ cao. Ví dụ, về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, tại vùng biên giới Campuchia giáp với Tây Ninh, có nhiều nhóm người gốc Việt sống lâu năm trên vùng Biển Hồ nhưng không có quốc tịch, hoặc những người Việt Nam sang Campuchia sinh sống nhưng chưa được nhập tịch.
Khi về làm Ủy viên Thường trực Ủy ban Đối ngoại (nay là Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại - PV), tôi đã kiến nghị chuyến giám sát đầu tiên của Ủy ban vào năm 2012 liên quan đến địa vị pháp lý của người gốc Việt tại Campuchia. Những kiến nghị này sau đó đã góp phần thúc đẩy giải quyết vấn đề giấy tờ tùy thân, quốc tịch và căn cước cho bà con người Việt ở Campuchia cũng như góp phần vào việc sửa đổi Luật Căn cước công dân sau này.
Cũng từ kinh nghiệm thực tiễn tại vùng biên giới Tây Ninh, tôi đã đề xuất giám sát việc thực hiện 3 hiệp ước về biên giới mà Việt Nam ký kết với Trung Quốc vào năm 2011. Chúng tôi đã đi giám sát tại biên giới phía Bắc về phân giới, cắm mốc, đường biên giới tự nhiên giữa Việt Nam (TP. Móng Cái, Quảng Ninh) và Trung Quốc (TP. Đông Hưng, Quảng Tây).
Những kinh nghiệm từ khó khăn trong quá trình phân giới, cắm mốc với Campuchia đã giúp ích rất nhiều khi tiến hành giám sát tại khu vực biên giới phía Bắc. Việc giám sát thực thi các thỏa thuận biên giới từ đó đã được triển khai xuyên suốt 3 khóa Quốc hội gần đây và trở thành nếp công việc thường xuyên, trọng yếu của Ủy ban Đối ngoại.
Cũng trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIV và XV, Ủy ban Đối ngoại đã tổ chức đoàn giám sát chung đầu tiên giữa Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Lào, tập trung vào việc thực hiện thỏa thuận giữa hai Chính phủ về giải quyết vấn đề di cư tự do và kết hôn không giá thú tại khu vực biên giới hai nước. Tại khu vực này, nhiều bài toán thực tiễn đặt ra trong công tác quản lý nhà nước, vì bà con dân tộc sinh sống hai bên biên giới, như đồng bào Pa Cô, vốn có lịch sử gắn bó lâu đời tại đây, họ đi qua lại giữa các quả đồi mà không quá chú trọng đến khái niệm quốc tịch. Lúc đó, hai nước có thỏa thuận là để bà con chọn một trong 2 quốc tịch.
Đoàn giám sát chung của Quốc hội hai nước đều nhận thức rằng, dù giải quyết theo hướng nào, thì mục tiêu cuối cùng đều là chăm lo để đời sống của bà con sinh sống tại khu vực này ngày càng tốt hơn. Bà con khi đó cũng nói rất mộc mạc với các thành viên Đoàn giám sát rằng, nơi nào có điều kiện tốt hơn, thì họ chọn làm nơi nhập quốc tịch.
Chuyên đề giám sát này đã có các cuộc làm việc, khảo sát tại 6 tỉnh (3 tỉnh của Việt Nam và 3 tỉnh của nước bạn Lào) và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ lãnh đạo Quốc hội hai nước khi đó, như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng và Chủ tịch Quốc hội Lào Pany Yathotou. Chuyên đề giám sát chung này cũng là hình mẫu cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hợp tác và phát triển thông qua sự thân thiết, gắn bó giữa nhân dân hai nước.
Đối ngoại Quốc hội - kênh ngoại giao nhà nước mềm dẻo
- Với 3 nhiệm kỳ và 15 năm liên tục làm ĐBQH, gắn bó với công tác đối ngoại của Quốc hội, ông nhìn nhận thế nào về vai trò của ngoại giao nghị viện?
- Cùng với đối ngoại Đảng và đối ngoại Nhà nước, đối ngoại Quốc hội là một trong những trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam. Trong suốt 80 năm xây dựng và trưởng thành, đổi mới và phát triển, đối ngoại của Quốc hội đã có nhiều đóng góp hết sức quan trọng vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Bên cạnh 3 chức năng chính là lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội còn đóng vai trò rất quan trọng trong triển khai đường lối đối ngoại của Đảng thông qua hoạt động ngoại giao nghị viện. Lợi thế lớn nhất của ngoại giao nghị viện chính là tính mềm dẻo, vừa mang tính ngoại giao nhà nước, vừa mang tính ngoại giao nhân dân, do đó có thể "chạm" đến những vấn đề "khó nói".
Một số hoạt động ngoại giao nghị viện nổi bật có thể kể đến, đó là năm 2012, Ủy ban Đối ngoại tham mưu tổ chức Hội nghị Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Lào tại Sơn La, nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hai Quốc hội. Dù điều kiện cơ sở vật chất và hạ tầng khi đó còn rất khó khăn nhưng với quyết tâm cao, hội nghị đã thành công rực rỡ, được truyền hình trực tiếp để người dân quan tâm, theo dõi, tạo không khí hân hoan như một ngày hội.
Tiếp đó, Ủy ban Đối ngoại tham mưu Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Lãnh đạo Quốc hội tổ chức Hội nghị Quan hệ hữu nghị Quốc hội hai nước Việt Nam - Campuchia tại TP. Hồ Chí Minh (tháng 8/2012), nhằm ôn lại quan hệ truyền thống gắn bó giữa hai dân tộc qua những chặng đường lịch sử; thể hiện quyết tâm, đồng lòng, chung tay thúc đẩy hơn nữa truyền thống hợp tác, đoàn kết, hữu nghị, góp phần đưa quan hệ hợp tác giữa hai Quốc hội và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam - Campuchia phát triển hơn nữa.
Đối với Trung Quốc, những chuyến thăm của lãnh đạo Quốc hội cấp cao với sự tham gia của hàng trăm thanh niên dự giao lưu tại Hội An, Đà Nẵng đã tạo nên những hạt nhân thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân hai nước. Cá nhân tôi cũng từng dẫn đầu đoàn ĐBQH Việt Nam đi thăm nhiều vùng của Trung Quốc. Những chuyến công tác như vậy góp phần kết nối nhân dân, chính quyền và mở rộng thêm thêm các hoạt động hợp tác kinh tế, văn hóa...
Với Liên bang Nga, chúng ta cũng thành lập Ủy ban liên nghị viện của Quốc hội hai nước do hai Chủ tịch Quốc hội là đồng Chủ nhiệm, góp phần tháo gỡ khó khăn trong quan hệ hợp tác giữa hai nước.
Hay với các nước châu Âu, như CHLB Đức, các nước Bắc Âu..., ngoại giao nghị viện đã giúp Việt Nam vận động đẩy nhanh quá trình phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) và mở rộng thông tin về hoạt động của Quốc hội Việt Nam một cách hiệu quả, thân thiện.
Một trong những vai trò quan trọng của Quốc hội trong công tác đối ngoại là thể hiện tiếng nói của nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. Với tư cách là cơ quan đại diện cho Nhân dân, Quốc hội đã không ngừng nêu cao các giá trị hòa bình, công lý và quyền tự quyết của các dân tộc.
Quốc hội cũng tích cực giám sát hoạt động đối ngoại của Chính phủ, bảo đảm các chính sách đối ngoại phù hợp với lợi ích quốc gia và nguyện vọng của Nhân dân. Đồng thời, phê chuẩn các hiệp định quốc tế quan trọng và giám sát việc thực hiện các cam kết quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong các quan hệ đối ngoại, củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với chính sách của Việt Nam.
“Tôi luôn tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân?”
- Như ông vừa chia sẻ, làm ĐBQH vừa là niềm vinh dự, tự hào, đồng thời cũng là trọng trách lớn. Vậy công việc của đại biểu dân cử có vất vả không, thưa ông?
- Làm đại biểu của dân thực sự rất vất vả, bởi ĐBQH không chỉ đại diện cho cử tri của một địa phương mà còn là đại diện của cử tri cả nước.
Với cá nhân tôi, là ĐBQH hoạt động chuyên trách ở Trung ương và đại diện cho cử tri Tây Ninh, ngoài việc duy trì quan hệ với địa phương, thực hiện các công tác lập pháp, giám sát, tôi thường phải tranh thủ những giờ nghỉ, ngày nghỉ để nghe điện thoại, kết nối và lắng nghe tâm tư của bà con địa phương nơi mình ứng cử. Và để có được những kết nối đó, tôi luôn phải suy nghĩ về những vấn đề cử tri, người dân quan tâm, lắng nghe đa chiều.
- Đứng trước những quyết định quan trọng của đất nước, mục đích lớn nhất của ông là gì?
- Mục đích lớn nhất của tôi cũng như các ĐBQH luôn là lợi ích của người dân. Tôi luôn tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có tạo thêm công ăn việc làm hay môi trường tốt hơn cho dân không?
Để đưa ra quyết định, tôi thường dựa trên ba yếu tố: Tự mình đánh giá sơ bộ về tác động của quyết định đến đời sống của người dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con; tham khảo kinh nghiệm quốc tế thông qua hoạt động đối ngoại để cung cấp thông tin cho những nơi cần thiết.
Dù việc bỏ phiếu quyết định là của cả Quốc hội trên nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số, nhưng với trách nhiệm cá nhân, tôi luôn phải trả lời được 3 câu hỏi đó trước khi bấm nút thông qua bất kỳ dự án luật, dự thảo nghị quyết, hay vấn đề quan trọng trình ra Quốc hội.
- Xin cảm ơn ông!
Thanh Chi thực hiện