Việt Nam cũng chính thức bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. (Ảnh: TTXVN/Vietnam+)
Hiện Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng,” khi mà cứ một người phụ thuộc thì có hai người trong độ tuổi lao động. Trong đó, tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi chiếm 67,4%, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi chiếm 23,3% và tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 9,3%.
Việt Nam cũng chính thức bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh.
Số người già tăng nhanh đáng kể
Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch-Tài chính, Phụ trách tham mưu lĩnh vực Quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển nghành Y tế cho hay các chuyên gia nhân khẩu học đều có chung nhận định là Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia có tốc độ già hóa dân số cao hàng đầu thế giới. Theo đó, tới năm 2036, dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già. Thời gian để Việt Nam chuyển đổi từ cơ cấu dân số “già hóa” sang cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao hơn, như Pháp phải mất tới 115 năm, Thụy Điển mất tới 85 năm, trong khi đó dự kiến Việt Nam chỉ mất 25 năm, tương đương với Nhật Bản (26 năm) và Thái Lan (22 năm).
Số liệu thống kê cho thấy tại Việt Nam cả 2 yếu tố mang tính động lực của già hóa dân số (tuổi thọ trung bình tăng và mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế) đều thể hiện rõ. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng nhanh, từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 74,7 tuổi năm 2024, cao hơn nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Cùng với đó, số lượng người già cũng tăng lên nhanh chóng: năm 2024, số lượng người già từ 60 tuổi trở lên là 14,2 triệu người, tăng 2,8 triệu người so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người so với năm 2014. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024.
Trái ngược với xu hướng gia tăng số người già, mức sinh của Việt Nam lại đang suy giảm đáng kể. Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, tổng tỷ suất sinh (TFR) của Việt Nam là 1,91 con/phụ nữ. Đây là mức sinh thấp nhất quan sát được từ trước đến nay. Kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới như: Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cho thấy khi mức sinh đã giảm thì khó có xu hướng tăng trở lại.
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng (Bộ Y tế). (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bà Hằng nhấn mạnh, già hóa dân số đang trở nên vấn đề thách thức nghiêm trọng đối với Việt Nam, không chỉ vì tốc độ già hóa nhanh hàng đầu thế giới, mà còn vì những yếu tố hạn chế mang tính nội tại. Đó là tốc độ già hóa dân số và năng lực tích lũy tài chính quốc gia.
Việt Nam đặt ra mục tiêu đến năm 2045, trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao. Đây được xem là một mục tiêu đầy thách thức, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động khó dự đoán, những thành quả của toàn cầu hóa đang bị đảo ngược do căng thẳng địa chính trị và chiến tranh thương mại. Điều đáng quan tâm là dù mục tiêu phát triển này có đạt được, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già vào năm 2036, trước gần một thập kỷ khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao. Điều này phản ánh thực trạng tốc độ già hóa dân số đi trước năng lực tích lũy tài chính quốc gia, các chuyên gia thường ví với tình trạng “già trước khi giàu.
Thức tỉnh về chính sách
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng phân tích gánh nặng tài chính liên quan tới chăm sóc sức khỏe được dự báo sẽ gia tăng đáng kể trong tương lai, nguyên nhân không chỉ đến từ sự gia tăng số lượng người già - là nhóm đối tượng có nhu cầu chăm sóc sức khỏe và đòi hỏi chi phí chăm sóc sức khỏe cao nhất, mà còn do những yếu tố khác như sự gia tăng chi phí đầu vào (đặc biệt là dược phẩm) cũng như sự vận hành của hệ thống y tế (hệ thống y tế mất cân bằng, dựa quá nhiều vào bệnh viện sẽ đòi hỏi chi phí lớn hơn trong khi không mang lại tác động sức khỏe cao hơn).
“Việt Nam đã sớm nhận ra tầm quan trọng của việc thích ứng với xu hướng già hóa dân số và dân số già ngay trong giai đoạn nền kinh tế đang nhận được nhiều lợi ích từ cơ cấu dân số vàng. Những điều chỉnh chính sách của Việt Nam (cải cách hệ thống an sinh xã hội, hệ thống y tế…) trong thời gian gần đây cho thấy Việt Nam khá chủ động trong việc xây dựng chiến lược thích ứng với xu hướng già hóa dân số và dân số già. Tuy nhiên, khả năng điều chỉnh chính sách linh hoạt cũng như năng lực chuyển hóa định hướng chính sách thành các hành động hiệu quả trên thực tế là vấn đề rất quan trọng trong thời gian tới,” Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng nhấn mạnh.
Bởi già hóa dân số là một quá trình có ảnh hưởng phức tạp và sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, do vậy xu hướng già hóa dân số cần được đánh giá từ nhiều khía cạnh như nhân khẩu học, kinh tế học, xã hội học, chăm sóc sức khỏe… Chiến lược thích ứng xu hướng già hóa dân số đòi hỏi những gói cải cách toàn diện, được kết nối chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, cải cách thị trường lao động, chế độ tiền lương, tiết kiệm và đầu tư, hệ thống an sinh xã hội, hệ thống chăm sóc sức khỏe…
Theo bà Hằng, để giảm bớt gánh nặng khi già hóa dân số cần cải thiện tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cá nhân cũng như tiết kiệm và đầu tư công, đặc biệt trong giai đoạn dân số vàng khi phần đông dân số đang ở độ tuổi đỉnh cao xét về mặt tạo giá trị, cũng cần được quan tâm. Hệ thống lương cần được điều chỉnh có tính toán tới chi phí tối thiểu cho cá nhân và hộ gia đình 4 người (2 người lao động và 2 người phụ thuộc) để tạo điều kiện cho các cá nhân có khả năng tích lũy tài chính. Đồng thời, cần cải thiện tính sẵn có và chất lượng của các lựa chọn đầu tư tài chính dài hạn cho tương lai, bao gồm các chương trình bảo hiểm tuổi già cũng như các kênh đầu tư tài chính khác (như chứng khoán, bất động sản, quỹ đầu tư…). Điều này có nghĩa cần giải quyết nhiều vấn đề liên quan như cải thiện tính minh bạch thị trường, đảm bảo sự ổn định của chính sách, tránh bong bóng tài sản và khống chế lạm phát…
Đối với thị trường lao động, cần cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn cung lao động. Hỗ trợ người tham gia thị trường lao động có đủ kỹ năng, sức khỏe và động lực để vừa tối ưu hóa tiềm năng lao động, vừa giảm thiểu nguy cơ xuất hiện các hiện tượng xã hội tiêu cực hiện đang xuất hiện ở nhiều quốc gia châu Á (thế hệ mất mát ở Nhật Bản, thế hệ ba không ở Hàn Quốc và lựa chọn Đường Bình ở Trung Quốc). Bên cạnh đó, có thể cải thiện tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thông qua các chính sách tạo điều kiện và khuyến khích lao động lớn tuổi tham gia những công việc phù hợp.
Bên cạnh đó là việc thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của mọi người về quá trình già hóa và tuổi già, từ đó giúp mọi người có chiến lược chuẩn bị đầy đủ tài chính, sức khỏe cho tuổi già cũng như điều chỉnh mục tiêu cuộc sống phù hợp với từng giai đoạn lứa tuổi.
Các bác sỹ siêu âm cho người cao tuổi. (Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN)
Trong công tác an sinh xã hội, cần mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng thúc đẩy triển khai hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, đa trụ cột để nâng cao mức độ bao phủ toàn diện của hệ thống, góp phần nâng cao mức sống của người hưởng bảo hiểm xã hội, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Cải thiện khả năng duy trì bền vững của Quỹ bảo hiểm xã hội thông qua những cải cách danh mục đầu tư, chẳng hạn hướng tới những lĩnh vực tiềm năng lợi nhuận và ít rủi ro như thị trường chăm sóc sức khỏe.
Trong công tác chăm sóc sức khỏe cần phát triển ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe người già (nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp...phục vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ cuộc sống của người già), tăng cường hợp tác lao động quốc tế ở một số lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh (điều dưỡng, nhân viên chăm sóc người già, nhân viên trợ giúp xã hội...).
Theo Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng, cần điều chỉnh hệ thống y tế để thích ứng hiệu quả với xu hướng già hóa dân số, trong đó chú trọng tăng cường tài chính công cho công tác chăm sóc sức khỏe người già; nghiên cứu mô hình bảo hiểm chăm sóc sức khỏe dài hạn để bổ sung nguồn tài chính cho chăm sóc sức khỏe người già; chú trọng dự phòng chủ động và nâng cao sức khỏe cũng như tăng cường ứng dụng tiến bộ công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin viễn thông) nhằm giảm chi phí chăm sóc sức khỏe và cải thiện tác động tới sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của người già.
Đặc biệt, cần khuyến khích sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan, bao gồm cả khối tư nhân không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận, tham gia cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ người già, phát triển nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe người già…/.
(Vietnam+)